Month: November 2015

Tuần hoàn và hơi thở

Từ phổi, máu có chứa dưỡng khí đi vào từng mỗi một tế bào của cơ thể.
Tuần hoàn và hơi thở
Từ phổi, máu có chứa dưỡng khí đi vào từng mỗi một tế bào của cơ thể. Nếu không có tiếp tế dưỡng khí, các mô tế bào sẽ chết rất nhanh chóng. Chẳng những máu mang đến tế bào dưỡng khí, và nuôi chúng, mà máu còn chuyển các chất thải theo đường tĩnh mạch. Tất cả máu trong cơ thể đều làm cuộc hành trình đó mỗi 3 phút. Nếu không thở đúng và tuần hoàn đúng thì cơ thể không thể hoàn tất được nhiệm vụ.
Hít vào thở mạnh ra chỉ có khoảng 3 lít không khí lưu chuyển, như vậy còn 1 lít đến 1 lít rưỡi không được lưu chuyển và tù hãm trong phổi, hoàn toàn không được sử dụng đến.
Cách thở ra không đúng cách hay làm trống phổi như vậy làm một phần đáng kể của phổi không hoạt động, và các phần đó là nơi mời gọi vi trùng đến, nó sẽ tấn công các mô yếu kém. Theo báo cáo của ngành y khoa, lao phổi chính là do giảm sinh khí, do dưỡng khí không được cung cấp đầy đủ. Phần mô mạnh khỏe và tốt tươi sẽ chống lại bệnh tật, con đường duy nhất làm cho mô phổi được mạnh khỏe và tốt là xua đuối hết khí độc ra và làm cho không khí trong lành tràn vào.
Đó là một trong những lý do mà cách thở của Yoga nhấn mạnh là phải dài, chậm, sâu, khi thở ra để làm sao cho không khí ứ đọng được đẩy đi càng nhiều càng tốt và thay thế bởi không khí trong lành. Không khí càng được đẩy ra bao nhiêu thì không khí trong lành được đem vào bấy nhiêu. Bằng cách thở cẩn thận thời gian thở ra có thể lần lần lâu hơn, theo sau là hít vào chậm và sâu. Trong khi thời gian nghỉ giữa hai thì, hít vào và thở ra được kéo dài đến độ cần thiết.
Có lúc nhịp thở trở nên rất chậm (giảm xuống còn 8 – 9 nhịp thở trong mỗi phút, hoặc chậm hơn nữa) và rất đều. Khi nhịp thở chậm, tốc độ biến dưỡng của cơ thể có khuynh hướng giảm xuống. Đến lượt quả tim, vì chỉ nhận ít chất độc phải thải đi từ các mô tế bào và cần ít dưỡng khí nên có thể nghỉ ngơi phần nào. Vì thế, nhịp tim sẽ giảm xuống cùng lúc với nhịp thở, giảm từ 70 nhịp trong một phút xuống còn 40 – 30 nhịp trong lúc tập thở. Kết quả của việc giảm nhịp thở là ít hao mòn toàn cơ thể, tim không phải làm việc nhiều, huyết áp giảm, cơ thể được như thư giãn, dây thần kinh được êm dịu. Một cảm giác rất an tịnh dâng tràn khắp thân và trí, và không còn thiếu không khí gì cả. (bài trước)

Cách thở đúng

Để làm sạch bụi bặm và vi khuẩn, không khí phải được hít vào qua đường mũi
Cách thở đúng
Thở qua lỗ mũi
Thở bằng miệng, hít vào qua khí quản và thanh quản (cổ họng) để không khí vào các phế quản mà không được lọc sạch, làm ẩm và sưởi ấm. Để làm sạch bụi bặm và vi khuẩn, không khí phải được hít vào qua đường mũi, nơi đó các màng nhầy tiết ra các chất nhờn lọc sạch không khí. Tính chất diệt khuẩn của chất nhầy sẽ giết rất nhiều vi khuẩn xâm nhập. Cũng bằng cách đó không khí phải đi qua một quãng đường dài hơn, được sưởi ấm bằng thân nhiệt, sẽ không làm cho các cơ quan chủ yếu bị choáng vì lạnh. Như vậy thở bằng miệng là cách gọi mời cảm lạnh và các bệnh nhiễm trùng khác. Tuy vậy, có lẽ điều quan trọng nhất là thở bằng mũi một cách đúng đắn sẽ tạo nên năng lượng vi tế lưu chuyển qua những kênh của “năng lượng sinh tồn” mà điểm cuối là lỗ mủi (idá và piungala)
Thở ra cho hết
Phổi xốp, có nhiều lỗ, rất đàn hồi và chứa vô số các nang. Khi chúng ta thở, không khí qua mũi, xuống khí quản (khí quản lại được chia thành nhiều ống nhỏ hơn gọi là phế quản và vào nhiều túi gọi là phế nang ở trong phổi).
Máu chảy vào phổi từ bên phải quả tim, chảy liên tục qua thể xốp là phổi. Dưỡng khí thẩm thấu qua màng mỏng của phế nang, qua viti huyết quản rồi vào máu, đến lượt nó nhận đầy thán khí (CO2) từ máu thải ra, do các chất thải mà máu mang đi từ các phần của cơ thể. Nếu không khí độc hại tích chứa trong các túi đó không được tống ra ngoài, không khí trong lành sẽ không vào được, dầu có hít vào mạnh đến đâu chăng nữa.
Trong cách thở thông thường, chúng ta chỉ tống không khí ra khỏi phần giữa và phần trên của phổi, còn phần dưới của phổi thì không hoạt động và đầy không khí tù hãm. Nói chung phổi có dung tích vào khoảng 5 lít không khí.
Hàng ngàn năm trước các nhà yogi đã đưa ra một khoa học về Pránayama (kiểm soát, hơi thở hay năng lượng sinh tồn) làm nhịp thở chậm lại, cho khoảng cách nghỉ giữa hai thời của pranendriya dài ra để kiểm soát, là, thanh tĩnh và thư giãn tâm trí. Bằng cách đó, sự rối rắm và những cảm xúc tiêu cực sẽ hoàn toàn bị loại khỏi đầu óc. Những phương pháp luyện tập tiên tiến đó được các vị thầy lão luyện trong HỘI ANANDA MARGA chỉ dạy, bởi vì nếu khoa học tinh tế này được chỉ dạy không đúng đắn, nó sẽ gây hại rất lớn cho thể chất và trí tuệ. Không nên tập Pranayama nếu không có một vị thầy kinh nghiệm hướng dẫn nghiêm túc. (bài trước)

Khoa học Yoga thở thường có 4 nhịp

Pranendriya liên hệ mật thiết với hơi thở, theo khoa học Yoga thở thường có 4 nhịp : hít vào (púraka), ngưng thở (kumbhaka), thở ra (recaka) và ngưng thở ra (sunyaka). Trong thời hít vào và thở ra pranendriya ở trang thái nhanh và giãn nở. Còn ở thời kỳ ngưng thở pranendriya ở trạng thái co và nghỉ ngơi. Khi hơi thở nhanh và không đều, pranendriya ở trạng thái hoạt động và thời kỳ ngưng thở thì ngắn, và như vậy tri giác sẽ không rõ ràng và trí óc bị xáo trộn. Còn khi hơi thở chậm, sâu và đều, thời kỳ ngưng thở lâu hơn, pranendriya yên lặng. Trong trạng thái tập trung tư tưởng sâu, hơi thở trở nên chậm lần, chậm lần.
Y khoa phương Tây bắt đầu nhận thực được sự liên hệ chặt chẽ giữa tốc độ thở và tình trạng tâm lý. Những thí nghiệm cho thấy sự thay đổi nhịp thở tương ứng không chỉ với sự thay đổi nhịp tim mà còn tương ứng với sự thay đổi điện thế trên bề mặt của não khi có sự kích thích từ bên ngoài. Thêm vào đó, những khoa học gia khám phá thấy nhịp thở cũng còn liên hệ sâu xa với tính tình. Thí nghiệm trên một người đang tập trung tư tưởng, bác sĩ nhận thấy trạng thái tập trung tư tưởng có đặc tính là nhịp thở giảm đi đáng kệ, gây ra một tạng thái gia tăng sự đề kháng của da – một tình trạng tương đương với trạng thái giảm sự lo âu.
Bác sĩ Peter Steincrohn khám phá thấy nhiều bệnh nhân của ông ta ở trạng thái lo âu đều có nhịp thở cạn và nhanh. Bác sĩ Steincrohn gọi đó là thở quá độ. Nhiều người khổ sợ vì lo âu là do thở quá độ mà không nhận ra nó. Họ thở quá độ một cách vô thức với hơi thở nhanh và cạn khi bị căng thẳng. Họ thở dài và ngáp. Họ than vãn : “Dường như tôi không thở tốt được như trước đây”.
“Tôi đã giúp cho nhiều người hay lo lắng bằng cách chỉ cho họ cách thở. Lo âu và hơi thở đã liên hệ chặt chẽ với nhau, cho nên khi chữa cái này thì cải thiện được cái kia. Nhiều người đã bỏ dùng thuốc an thần, thuốc ngủ, hay một loại thuốc trấn an sau khi họ đã học cách thở thế nào gọi là bình thường.
Trong một thí nghiệm, bác sĩ Steincrohn tìm thấy là ông có thể gây nên một tình trạng lo âu nghiêm trọng và các cơn sợ hãi bằng cách cho một trong các bệnh nhân của ông thở thật nhanh và cạn, sau đó nếu người ấy thở đều lại và sâu hơn, lo âu và sợ hãi sẽ biến mất.
Trong trạng thái đó những rung động từ bên ngoài được tiếp nận và ghi lại rõ ràng trong óc như sự phản chiếu mặt ao yên tĩnh và phẳng lặng. (bài trước)

Hơi thở và tâm trí

“Tư tưởng bắt đầu và tương ứng với sự rung động”. Khi một người nuôi dòng tư tưởng khá lâu, người ấy phải có hơi thở dài, nếu anh ta suy nghĩ đột ngột, hơi thở của anh ta rung động nhanh từng chặp. Khi cơn bão tố giận dữ làm rung động nhanh đầu óc anh ta, hơi thở của anh ta sẽ mạnh bạo. Khi tâm hồn anh ta lắng sâu và thanh lặng, thì hơi thở của anh ta cũng giống như vậy. Nhưng nếu anh ta làm ngược lại : bảo anh ta gắng sức suy nghĩ cho lâu đồng thời bảo anh ta thở từng chập, thì anh ta sẽ nhận thấy điều không thể thực hiện được.
Một tâm trí thăng bằng tương ứng với hơi thở chậm sâu và đều. Tâm trí xáo trộn làm gia tăng tốc độ tim đập và nhịp thở nó trở nên không đều và đứt quãng. Tất cả chúng ta điều có kinh nghiệm về tình trạng này, khi ta thở hổn hển hay khi hụt hơi do một xúc cảm đột ngột. Một số người hơi thở bị cạn và không đều ngay khi với một tình trạng hơn căng thẳng, như khi chờ đợi phỏng vấn hay viết thư. Ngược lại, hơi thở ngắn làm giới hạn khả năng tinh thần, sau khi chạy đua cậu học sinh không thể ngồi tức khắc vào giải bài toán, nó sẽ phản đối “chờ tôi thở cái đã”.
Theo khoa học Yoga, điều đó là do tác dụng của pranendriya một sức mạnh tâm linh nằm ở luân xa Anáhata (luân xa về tim). Pranendriya, máy động và đẩy từng luồng sóng lặp đi lặp lại, giãn nở và co thắt. Những luồng sóng năng lượng vi tế của cơ thể rung động cùng cảm tính với pranendriya và chảy theo cách thức của nó. Khi pranendriya ở trạng thái giãn nở và di chuyển nhanh thì những dòng năng lượng vi tế cũng ở trong trạng thái hoạt động, kết quả là luồng thần kinh vận chuyển cảm giác từ ngoài vào óc bị trở ngại và do đó tri giác bị sai lệch. Khi pranendriya ngừng nghỉ, luồng năng lượng trở nên im lặng và tâm trí ở trong trạng thái tiếp nhận thanh thản.
Một phương pháp sinh đẻ tự nhiên ngày càng được phổ biến, phương pháp La Maze dạy sản phụ thở sâu giống như cách thở của nhà Yogi để giảm cơn đau lúc lâm bồn. Kiểm soát hơi thở làm tan biến đi những căng thẳng của cảm xúc và làm thư giãn đầu óc, gia tăng năng lực ý chí tập trung và tự chủ. Và điều quan trọng nhất là nó làm gia tăng sự phát triển tâm linh vì nó tích chứa sức mạnh nội tại lớn lao dùng để thăng hoa tâm trí và giúp chúng ta kiến tạo một tâm thức ở một mức độ cao. (bài trước)

Práná và hơi thở

Một trong những khám phá đáng kể của hình chụp Kirlian là vòng hào quang sinh lực trở nên sáng hơn khi lồng ngực chứa đầy dưỡng khí trong lành. Thở sâu dường như làm phát ra và bổ sung sinh lực Práná. Từ cả ngàn năm nay nhà Yogi đã hiểu được sự liên hệ chủ yếu giữa sinh lực và hơi thở, bởi vì chúng ta hấp thụ sinh lực Práná không chỉ qua thức ăn nhưng đặc biệt còn qua không khí chúng ta thở.
Mọi sinh vật đều tùy thuộc vào hơi thở, và ngưng thở có nghĩa là chẳng còn sống. Từ tiếng khóc đầu tiên của hài nhi đến hơi thở cuối cùng của người chết, chẳng còn gì hết ngoại trừ một chuỗi hơi thở. Chúng ta tiêu hao sức sống hay sinh lực mỗi khi chúng ta suy nghĩ, mỗi khi chúng ta hành động theo ý muốn hay cử động bắp thịt. Vì vậy điều cần thiết là phải phục hồi lại chỉ bằng cách thở mà thôi.
Vì vậy nhà Yogi luôn luôn nhấn mạnh sự quan trọng của cách thở đúng phương pháp và gọi là Pranayama (kiểm soát hơi thở) để có được tối đa lượng sinh lực hấp thụ vào trong mỗi hơi thở. Trong cách thở thông thường, chúng ta chỉ trích được một ít sinh lực Práná từ khí quyển, nhưng khi chúng ta tập trung và chú ý điều chỉnh hơi thở, chúng ta có thể dự trữ một số lượng rất lớn Práná trong nhiều trung khu thần kinh khác nhau hay luân xa. Những người luyện tập có hệ thống và hơi thở sâu có thể cảm nhận được hiệu quả vô cùng sống động của sự hấp thụ Práná, khi mỗi phần của cơ thể đều chứa đầy sinh lực. Cuối cùng là toàn cơ thể cũng chịu dưới sự điều khiển của chúng ta, và mọi bệnh tật sẽ bị đánh tan từ gốc rễ. Ngoài ra dòng sinh lực mãnh liệt này sẽ mang lại sức khỏe và năng lượng cho mọi vật xung quanh ta, vì rằng sinh lực Práná chuyển qua những cơ thể khác như nước từ trên cao chảy xuống thấp. Kiểm soát đúng cách hơi thở làm giảm nhiều bệnh tật của nhân loại ngày nay – bệnh tim, bệnh huyết áp cao hay thấp, suyễn, lao… và một số bệnh khác.
Nói một cách khác, nhà Yogi đã du nhập chu kỳ sinh lực của chính họ vào chu kỳ sinh hóa thiên nhiên và cảm thấy thể nhập làm một với tạo hóa. Thán khí, dưỡng khí, đạm khí, khinh khí và những nguyên tố hóa học khác mà những phần có ở trong mặt trời, các hành tinh, tinh tú. Từ chỗ liên kết trực giác đó, nhà Yogi cảm thấy mến yêu tất cả tạo vật và bắt đầu nhận thức được tính Đồng Nhất có trong mọi hiện tượng khác nhau”. (bài trước)

Sức khỏe vật chất

Luân xa Manípura nằm ở vùng rốn điều khiểu yếu tố ánh sáng (luminous factor) – hơi nóng và năng lượng – của cơ thể và tiêu hóa, nó liên quan đến tụy tạng và tuyến thượng thận. Luân xa thứ tư, luân xa Anáhata nằm ở giữa lồng ngực, điều khiểu yếu tố hơi ( aerial factor) và liên quan tới chức năng hô hấp và tuần hoàn của cơ thể. Luân xa thứ năm, luân xa Vishuddha (nằm ở cuống họng) điều khiển yếu tố khí dĩ thái (ê-te) (ethereal factor) – yếu tố vi tế nhất trong năm yếu tố và liên quan tới tuyến giáp trạng và phó giáp trạng, nó có trách nhiệm về tiếng nói. Luân xa này kiểm soát tất cả các luân xa thấp hơn nó. Như vậy nó điều phối tất cả năng lượng của cơ thể vật chất. Con “mắt thứ ba” của luân xa Ajina nằm ở giữa não bộ, đôi khi được gọi là nơi “an vị của trí óc”. Nó điều khiển tuyến yên (pituitary glands) và vùng hạ đồi (hypothalamus) chi phối chức năng tâm trí. Cái thứ bảy, luân xa cao nhất là Sahasrára nằm ngay chính ở trong tâm và đỉnh đầu, liên quan đến tùng quả tuyến (pinenal gland) là trung khu của tâm thức thuần khiết của mỗi người. Nó điều khiển tất cả các luân xa khác thấp hơn nó, và như thế nó là trung tâm điều khiển toàn bộ cơ thể.
Sức khỏe vật chất, tâm trí và tâm linh của một cá nhân tùy thuộc vào chính sự thăng bằng đúng đắn về năng lượng giữa các luân xa đó và giữa các tuyến nội tiết tố mà chúng có liên quan đến nhau. Bệnh hoạn là do sự yếu ớt và mất thăng bằng luồng năng lượng của một hoặc nhiều luân xa. Các vị thầy yoga được huấn luyện để “chẩn đoán” xem luân xa nào bị yếu khi ta bị bệnh và chỉ rõ bài tập asanas để kích thích, và tái tạo năng lượng cho trung tâm năng lượng đó và điều hòa sự tiết xuất của các tuyến khác nhau. Nếu thực hiện được các bài tập asanas không hợp cách, người thực hiện không chỉ làm mất thời giờ, mà còn có thể làm hại cho cơ thể nữa. Vậy chớ nên tập các tư thế asanas chỉ theo sách vở, mà phải tập dưới sự hướng dẫn của các vị thầy đã từng trải kinh nghiệm.
“Trong giai đoạn tiến hóa này, người tập yoga mới biết đích thực rằng họ chìm ngập trong đại dương vô tận của năng lượng vũ trụ. Không chỉ nhận biết sinh lực práná trong không khí họ thở, mà họ còn nhận biết cả sự hiện diện của sinh lực đó trong cây cỏ, hoa quả, ngũ cốc mà họ ăn vào. Họ ngửi được sinh lực trong ánh sáng và màu sắc, chính tất cả những điều này đã làm cho trần gian của chúng ta đẹp biết bao đối với những ai có thể thấy được nó một cách đúng đắn.

Luân Xa (cakras)

Những nhà hiền triết xa xưa này không những tìm ra được “sinh chất năng lượng” (bioplasmie enegy) có trong thân thể của họ mà còn vẽ ra bản đồ chỉ rõ đường vận hành của dòng sinh lực trong cơ thể và mô tả rõ 7 trung tâm năng lượng hay còn gọi là luân xa (cakras). Luân xa điều khiển trường lực (force fields) hay thay đổi này. Gần đây khoa học cuối cùng đã phát hiện ra được những luân xa ấy : với những dụng cụ nhạy cảm đã đo được năng lượng phát ra ngoài giới hạn của những tần số – được biết là xuất phát từ hệ thống sinh hóa (biochemical) và giải phẩu (anatomical) hiện ra từ bề mặt cơ thể đúng với vị trí của các luân xa. Những luân xa ấy vi tế hơn cả hệ thống thần kinh có thể và không thể thấy được bằng mắt thường, nó chỉ có thể được nhận ra khi một người đã phát trển khả năng trực giác “nhìn bên trong” và nhận biết về nó từ bên trong.
Mỗi một luân xa điều khiển một khu vực đặc biệt và là một thành phố của cơ thể, liên quan đến những tuyến nội tiết nào đó. Bởi thế luân xa điều khiển các hoạt động của cơ thể và trí não nhờ phương tiện các tuyến, bằng cách kích động các tuyến để tiết ra kích thích tố khác nhau giống như các tuyến cao cấp điều khiển các tuyến cấp thấp, các luân xa cao cấp điều khiển các luân xa cấp thấp hơn.
Muladhara cakra – luân xa này nằm gần phần thấp nhất của cơ thể, cuối tủy sống, điều khiển yếu tố cứng (solid factor) trong cơ thể và liên quan trực tiếp đến dịch hoàn (gonads) và chức năng bài tiết của hậu môn. Kế đó, ở cao hơn (và tinh tế hơn) là luân xa Svadhisthana, nằm dịch lên trên một chút cũng trên cột sống, điều khiển các yếu tố lỏng (liquid factor), liên quan đến tuyến sinh dục và chức năng sinh dục của cơ thể.
Giả dụ rằng bây giờ có một người hiểu được sinh lực Práná một cách hoàn hảo, và có thể điều khiển nó, vậy thì có quyền lực nào trên trái đất này mà không thuộc về người đó ? Họ có thể di chuyển được mặt trời, tinh tú ra khỏi vị trí của chúng, điều khiển mọi vật trong vũ trụ này từ nguyên tử cho đến mặt trời to nhất. Những kẻ chuyển đổi thế giới vĩ đại ấy, những nhà tiên tri, những vị anh hùng có khả năng kỳ diệu điều khiển được sinh lực Práná của họ, sinh lực ấy cho họ năng lực, ý chí vĩ đại. Họ có thể mang sinh lực Práná ấy lên tầng rung động cao, và họ thu hút được cả ngàn sinh lực và ảnh hưởng cả nửa phần trái đất. (bài trước)

Đại dương của sinh lực práná

Từ lâu, các nhà yogi, với cái nhìn trực giác sâu sắc vào bên trong đã thấy rằng tất cả các thực tế đều nằm trong đại dương bao la của sinh lực vũ trụ “práná”, mà những làn sóng năng lượng liên tục nổi lên rồi tan biến với vô vàn thay đổi. Họ học được cách để sử dụng và điều khiển được khối sức mạnh to tát của năng lượng vũ trụ trong họ, và điều khiển sinh lực “práná” không chỉ mở ra khả năng nghệ thuật và tri thức của họ mà còn cho họ cả sức mạnh tâm linh to lớn nữa.
Người trị bệnh đựng nước trong một bình đậy kín và sau đó tưới lên hạt giống lúa mạch. Hạt giống mọc rất nhanh, hơn hẳn những hạt giống không được tưới bằng loại nước đã được tăng năng lực. (Ngược lại, khi một bệnh nhân chán nản, hoặc bệnh nhân tâm lý, lấy nước tưới lên hạt, hạt sẽ nẩy mầm rất chậm. Một người bệnh có thể giết chết men cấy khi họ cầm nó trong tay).
Màu và khuôn mẫu của sinh lực được thay đổi tức khắc với sự thay đổi tình trạng cảm xúc con người. Hình chụp một bàn tay của một người thanh thản, thư giãn cho thấy có những phần năng lượng nhỏ phát ra từ đầu các ngón tay, trong khi một người nóng giận căng thẳng, cho thấy có những dòng sinh lực rộng hơn đang bị tiêu táng và lộn xộn.
Từ những hình ảnh chụp Kirlian đó, các khoa học gia đã biết được “khối năng lượng” của chúng ta có thể bị ảnh hưởng bởi bất cứ vật gì xung quanh nó. Nó khám phá ra sự sợ hãi, sự công kích, hoảng hốt, sự thân thiện trong những người xung quanh đó. Nó đáp ứng những trường lực (force fields) phát ra do máy móc, mặt trời, mặt trăng, các hành tinh, bão tố sấm sét, tiếng động và gió, nó phản ánh các thay đổi về mùa màng và thủy triều biển cả, và đặc biệt là các rối loạn điện từ trên mặt trời “điểm đen trên mặt trời” (sunspost)
Vậy thì điều bắt đầu xuất hiện… một hình ảnh mới của con người không phải là một sinh vật xa lạ, nhưng là một trường rung động phối hợp sinh động và chặt chẽ với tất cả các trường khác, như là một nốt nhạc vang lên với tất các các nốt khác quay cuồng trong một hòa âm. Đó là một hình ảnh mới của con người liên kết với vũ trụ nhờ vào “khối năng lượng sinh chất” (bioplasmic energy body) hiểu biết và phản ứng với các thay đổi của mặt trời, các hành tinh, môi trường, thời tiết và máy móc cũng như đối với các loại bệnh tật, tính khí và tư tưởng của người khác, một cái nhìn đầy nhân tính, như một mắt lưới, một phần của toàn thể đời sống trên trái đất và trong vũ trụ này. (bài trước)

Chụp hình Kirlian

Ta đặt vật thể được chụp hình trong một trường của dòng điện cao tầng. Một khoa học gia khi thấy bàn tay của mình được chụp theo phương pháp Kirlian đã tán thán : có một thế giới chưa thấy được mở ra trước mặt tôi! Toàn là những mê cung lấp lánh, cháy bùng nhấp nháy, chớp sáng. Một vài tàn lửa bất động luôn luôn nhấp nháy, những cái khác thì đi và lại như những vì sao lạc lang thang. Trên những dải ngân hà kỳ diệu đó của ánh sáng ma quái, có những ngọn lửa đủ màu sắc : xanh dương, vàng cam, đỏ tím, “những ngọn lửa thần tiên”…
Do những thí nghiệm theo phong cách chụp hình Kirlian, các khoa học gia đã tìm thấy “khối năng lượng” hay “sinh chất” (bioplasma) như cách gọi của người Liên Xô cũ, biểu hiện những thay đổi trong cơ thể trước rất lâu mới xuất hiện trên bình diện vật chất thô thiển : một bệnh làm chết cây đã được tìm ra trên vòng hào quang của cây nhiều ngày trước khi nó xuất hiện trên phần cơ thể sinh lý của lá. Bây giờ, người ta đã dùng phương pháp Kirlian để sớm tìm ra lúc khởi phát bệnh, đặc biệt là bệnh ung thư trên “sinh chất” rất lâu trước khi bệnh được phát hiện trên cơ thể sinh lý.
Trường sinh lực này dường như là mẫu cấu tạo nên để hướng dẫn sự tăng trưởng của cơ thể vật chất vì nó định ra hình thể vật chất các mô sẽ có : nếu một phần của tế bào chất từ nơi tay của một bào thai được đặt trong phần chân của bào thai đó nó sẽ trở thành phần chân, và năng lực của cơ thể vẫn còn tồn tại cả ngay khi phần vật chất của nó đã bị lấy đi : hình chụp Kirlian một chiếc lá với một phần ba lá đã bị cắt bỏ đi, vẫn thấy giống như hình chiếc còn nguyên vẹn. Các khoa học gia nghĩ rằng, chính năng lực cơ thể đó đã làm cho những người bị cưa chân hoặc tay thề rằng họ vẫn còn cảm giác tay chân của mình.
Đã cũng chính là năng lực tinh thần của người chữa bệnh phát ra trong lúc điều trị, như có phép lạ ! Hình chụp Kirlian trong lúc chữa lành bệnh bằng tâm linh đã cho thấy có sự suy giảm tổng quát của ánh sáng trong bàn tay con người chữa trị, và có một đường kênh hẹp quy tụ ánh sáng như của tia laser phát ra từ trung tâm. Đó là dòng sinh lực mãnh liệt práná phát ra từ năng lực sinh hóa của cơ thể người điều trị chuyển qua cơ thể người bệnh làm thăng bằng và phục hồi sinh lực người bệnh, làm cho họ lành bệnh.Thật vậy, năng lượng phát ra có thể sạc vào bất kỳ gì xung quanh nó.

Práná “dòng sinh lực”

Các nhà yogi nói rằng – trong vũ trụ hiện diện một năng lượng duy nhất rung động và quán thấy đó là nguồn gốc và tổng hợp tất cả các sức mạnh – lực hấp dẫn, điện lực từ lực và kể cả sinh lực của con người. Nhà yogi gọi năng lực vũ trụ đó là PRÁNÁ. Người Trung Hoa gọi đó là khí (chi) người Nhật gọi là “KI”. Năng lực chủ yếu này thâm nhập và điều khiển mọi sinh vật. Chúng được bao quanh bởi một cái vô hình gọi là “trường sinh học” trong trạng thái luôn luân lưu và chuyển động đều đặn, nó tổ chức các chức năng sinh động. Dòng sinh lực đó dần dần biến mất khi chết. Nhưng bởi vì chúng ta được trang bị để nhìn ra bên ngoài cơ thể nên do đó chúng ta trở nên không nhận hiểu được sức mạnh tế nhị bên trong, Práná – nó vi tế hơn cả năng lực điện tử rất nhiều. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ là cơ thể bằng xương bằng thịt mà không nhận biết là chúng ta là các “mạng tro mờ” của trường sinh lực rung động, luôn luôn lưu chuyển và có liên quan đến trường sinh lực xung quanh chúng ta, kể cả những vì sao xa thẳm.
Đã nhiều thế kỷ, nhà yogi và nhà tâm linh đã khám phá ra rằng con người có một năng lực bao quanh nó phát ra nhiều màu sắc tùy theo trạng thái tâm thức của cá nhân đó, nhưng các nhà khoa học duy vật chê bai tư tưởng trên là “điên rồi”. Gần đây đã có một phương pháp đáng chú ý, được phát triển tại Liên Xô cũ, đã thật sự chụp được hình “năng lượng cơ thể”, do đó đã dứt khoát xác nhận sự tồn tại của nó.
Phương pháp này gọi là “chụp hình Kirlinan” – đặt theo tên người phát minh ra nó.
Nó làm tất cả các cơ quan hoạt động trong tình trạng mạnh khỏe, để có thể đáp ứng nhanh nhẹn và đúng đắn các “lệnh” gởi đến các hạch tuyến khác.
Như là tư thế ĐỨNG TRÊN VAI (Shouler – stand Pose) làm giảm sức căng ở phần dưới bụng và nội tạng, đồng thời giúp cho các động mạch bị tắc nghẽn ở vùng chậu và chân được khai thông. Các tư thế asanas khác làm cho thành bụng được mạnh hơn, như vậy nó giữ cho các cơ quan nội tạng nằm ở vị trí thích đáng. Bằng cách này, bao tử, ruột, thận, cơ quan sinh dục được ngăn ngừa khỏi chảy xệ xuống. Asanas cũng khiến cho sự tiêu hóa được tốt hơn, đó vốn là điều cơ bản của sức khỏe toàn cơ thể.
Hơn nữa, trong tư thế thở sâu với hoành cách mô, cơ hoành xoa bóp các cơ quan nằm trong vùng lõm phần bụng trên với từng hơi thở. (bài trước)