Month: February 2016

Nguyên nhân khác của dáng đi xấu là cách đặt chân sai

Nguyên nhân khác của dáng đi xấu là cách đặt chân sai, Nên chơi cầu lông
Phải thận trọng lựa giày cũng như lựa hàng áo. Bàn chân có 4 điểm tựa trên giày là gót chân, dưới đầu gan bàn chân là 75%, dưới ngón cái 20%, và dưới ngón út 5%. Cả sức nặng của thân hình đè nặng trên những điểm tựa nhỏ đó vì thế giày phải vừa thích hợp với bàn chân.
Dù ở tuổi nào, ở trạng thái nào đi nữa, cũng không được đi giày không gót nghĩa là giày đế xẹp 1 phân. Gót giày không nên quá nhọn, nhất là đối với phụ nữ mập. Nếu phải đi đường xa hoặc đường không bằng phẳng, ta có thể đi giày đế bằng, nhưng ít nhất cũng phải cao 3 phân. Nguyên nhân khác cũa dáng đi xấu là cách đặt chân sai, hoặc quay vào phía trong, hoặc quay ra phía ngoài, tay không đưa đúng và mông không cân bằng. Những khuyết điểm này có thể tự sữa chữa nếu có chí tập thể dục và đi bộ dăm cây số trong một tuần lễ :
Ở trong phòng, lấy sợi dây buộc vào bàn chân, tủ hay ghế và căng thẳng từ đầu tới cuối phòng rồi tập đi trên đó như người làm trò xiếc đi dây, đừng cúi xuống nhưng bàn chân phải dò để đi đúng đường dây. Trong khi đi nên đội lên đầu một vật nặng như cái khay, cái giỏ (đã nói ở trên) hoặc quyến tự vị v.v… Giữ đầu gối thẳng và phải đặt đầu bàn chân xuống đất trước khi đặt gót chân. Tập động tác này sẽ sửa được lối đi chân chữ bát, chân vòng kiềng, hoặc cong đầu gối và dáng đi sẽ nhẹ nhàng.
Đứng sát cánh cửa, chân không (chân đi đất), đứng thật thẳng làm thế nào cho đầu, vai, mông và gót chân chạm cánh cửa; thót bụng vào và ưỡn ngực ra; co đầu gối chạm ngực, lần lượt mỗi chân 15 lần. Tập cách này mông sẽ giữ được thế quân bình.
Nên chơi cầu lông, bơi lội hoặc đi xe đạp. Nếu không có điều kiện có thể tập như sau :
Nằm ngửa, hai tay để dưới lưng, cong đầu gối lên phía ngực rồi đạp thẳng lên phía trên trần nhà trong khi hai tay chống lưng lên như “trồng cây chuối”. Hai chân đạp lần lượt, tưởng tượng như đạp xe đạp vậy. Lúc mới đầu sẽ khó làm, nên nhờ một người thân giúp đỡ, lâu dần sẽ quen đi.
Buổi tối nên thoa nắn đôi chân bằng cách nằm ngửa, co chân lên ngực rồi đạp thẳng lên phía trên trần nhà trong khi đó dùng hai tay bóp thật mạnh từ mắt cá chân lên tới đùi. Khi tay đã mỏi nghỉ một lúc rồi làm lại (hình).
Khi bước đi tay phải đong đưa tự nhiên, nếu thấy ngượng nghịu có thể cầm dù, cầm bóp v.v…

Những đốt xương sống bị vặn vẹo thành ra mông và vai lệch

Triệt để tránh kiểu cười nửa miệng, chỉ hơi nhếch mép, trề môi, sẽ làm người đối diện lầm tưởng là người kiêu kỳ, khó tính mà tính kiêu kỳ là một trong những tật đáng ghét nhất của con người.
Dáng người
Dáng người cao lớn, thấp nhỏ là do thiên phú, di truyền, nếu khôn khéo luyện tập ngay từ khi ít tuổi may ra mới sửa đổi được ít nhiều, nhưng tướng đi dáng đứng, cách ngồi ta có thể tự sửa chữa được.
Muốn có dáng đẹp trước hết ta phải để ý tới hình thể xương sống vì thế các bậc phụ huynh phải lưu tâm tới trẻ nhỏ ngay từ khi chúng bắt đầu ngồi trên ghế nhà trường. Ta có thể tự kiểm soát bằng cách mặc quần áo sát mình và đứng trước một cái gương (tấm kính) lớn. Tìm cách treo một sợi dây chì (buộc một vật nặng vào một đầu sợi dây) cho có hinh thẳng thước thợ với mặt đất. Đứng thế nào cho sợi dây sát bên cạnh ta và nhận xét xem dây có qua đúng 8 điểm sau đây : giữa đầu, trái tai, xương bả vai, cùi chỏ, cổ tay, giữa đùi, đầu gối và cổ chân (hình).
Người ta nhận thấy xương sống bị vẹo dưới những hình dáng sau đây :
Những đốt xương sống phía trên bị cong ra phía sau thành lưng cong.
Những đốt xương sống giữa bị cong ra phía trước thành mông cong và lưng gãy.
Những đốt xương sống bị vặn vẹo thành ra mông và vai lệch
Gặp những trường hợp quá nặng (quá cong) ta không thể tự sữa chữa mà nên đến trung tâm chỉnh hình nhờ chữa trị. Bác sĩ sẽ tùy theo trường hợp mà cho đeo những đai sắt nắn lại bộ xương ngực hoặc lưng và sẽ chỉ dẫn cách tập tành để sữa chữa. Ta có thể phòng ngừa bằng cách tpậ giữ cho thân hình ngay thẳng nhưng không cứng cỏi. Mỗi ngày nên đội trên đầu một cái kay hoặc một cái giỏ không và đi đi lại lại trong 5 phút, cố giữ cho khỏi rơi, lâu dần thêm vào khay (hoặc giỏ) một vài vật nặng chừng 1 ký, rồi 2, rồi 4 ký. Những lúc thường cũng cứ tưởng tượng như mình có mang trên đầu cái khay kể trên, nghĩa là giữ đầu và thân mình cho thẳng.
Dáng đi
Dáng đi đẹp phải nhẹ nhàng uyển chuyển, không cứng cỏi nhưng cũng không nhún nhảy và lúc nào cũng phải giữ vẻ tự nhiên
Sự quan trọng nhất của dáng đi là đôi chân. Nếu đôi chân không lành mạnh, thảnh thơi thì không thể nào có dáng đi đẹp vì vậy phải lưu ý nhiều tới đôi giày.
Giày quá chật hoặc gót giày không vững, không thích hợp sẽ rất tai hại cho dáng đi.

Nói ngọng

Ở người lớn tuổi sự chữa trị sẽ khó khăn và phiền phức hơn. Phải tìm các bệnh về mũi, cuống họng, đôi khi bệnh suyễn cũng gây tật cà lăm. Phải tập thở cho điều hòa vì người nói lắp không biết thở và thường thở ra khi nói; trong khi tập thở cũng tập nói một vài tiếng rồi một câu khó (như đã nói ở trên). Mỗi ngày nên đứng trước gương, cử động môi và đọc lớn tiếng một bài học thuộc lòng hoặc hát một bài ca ngắn. Cần nhất là người bệnh phải tự tin và tập trấn tĩnh, bỏ tính tự ti mặc cảm; nếu cần có thể xin bác sĩ cho dùng thuốc an thần.
Ở một số người lưỡi quá lớn hoặc quá ngắn nên không phát âm được rõ rang thành ra nói ngọng. Trường hợp này vô phương chữa trị. Phần đông những người nói ngọng không có nguyên do của tật cẩm sinh mà chỉ là sự bắt chước, vì thế mỗi vùng nói ngọng khác nhau.
Gặp trường hợp này phải tập đọc lớn tiếng, tập hát để phát âm cho thật đúng, đặc biệt những người ở miền Bắc thường đọc chữ “tr” thành “t” hoặc “tr” thành “ch” có thể tập đọc câu sau đây thật chậm rồi nhanh dần : “con trâu trắng buộc ngoài bụi tre trơ trụi, ăn no bụng tròn to bằng cái trống treo”.
Những người hay lầm lẫn chữ “n” và “l” có thể tập đọc câu sau đây : “Ông Nỉnh ông Ninh, ông ra đầu đình, ông gặp ông Nang; ông Nảng ông Nang, ông ra đầu làng, ông gặp ông Ninh” v.v…
Nên kiên nhẫn tập luyện vì nếu phát âm sai người đối thoại sẽ cho mình là kẻ quê kệch
Tiếng cười
Nụ cười thường tô điểm cho vẻ mặt thêm rạng rỡ. Tuy nhiên cười không đúng chỗ hoặc không đúng kiểu còn tai hại hơn là vẻ mặt bình thản. Đừng cười gượng hoặc cười lớn tiếng, nhất là đối với phụ nữ đứng tuổi thì không nên cười thét lên hoặc cười rũ rượi vì như vậy là tỏ ta thiếu đứng đắn. Lối cười này có thể tha thức được đối với thiếu nhi hoặc thanh niên, thiếu nữ mà thôi.
Bạn có thể ngồi trước gương và nghĩ đến chuyện gì thật buồn cười rồi cười thật tự do bạn sẽ thấy miệng mở rộng, cặp mắt híp lại, răng chìa ra, bắp thịt mặt nhăn nhúm lại trông thật là khả ố. Trái lại, nếu bạn mỉm cười, cặp môi hé mở, những bắp thịt ở mặt căng lên, cặp mắt sáng ngời, trông bạn sẽ tươi trẻ hơn nhiều. Tư cách hơn cả là mỉm cười, một nụ cười tự nhiên, cởi mở, diễn tả được sự vui vẻ cũng như tình cảm của nội tâm bản thân.

Người cà lăm thường nói một vài chữ đầu rồi bỗng dung ngừng lại

Tật nói lắp làm cho người nghe phì cười hoặc nếu không thì cũng phải mỉm cười vì thế các vai hề trên màn ảnh, trên sân khấu thường hay nói cà lăm. Riêng đối với người nói cà lăm, tật này đã ám ảnh suốt đời họ vì kông cho họ theo đuổi một số nghề nghiệp cần tiếp xúc với nhiều thân chủ và mọi người dễ bị cười chê, chế giễu, họ sinh ra tự ti mặc cảm, tìm cách xa lánh mọi người.
Người cà lăm thường nói một vài chữ đầu rồi bỗng dung ngừng lại, lặp đi lặp lại mãi một chữ và không thể nào hoặc rất khó khăn mới vượt qua một vài chữ khác rồi lại cà lăm v.v…
Cũng có người ngay khi bắt đầu nói hoặc đang nói dở chừng bỗng dưng dừng lại, mặt đỏ lên, bắp thịt ở mặt co dúm lại, môi mấp máy, cố gắng hết sức cũng không tiếp tục câu nói được.
ở một số người nhẹ hơn thì chỉ có thể bắt đầu câu bằng một tiếng vần bằng hoặc chỉ bằng tiếng vần trắc mà thôi, trái lại thì cà lăm như trường hợp trên.
Có người luôn cà lăm mỗi khi nói, có người chỉ cà lăm khi bị xúc động hoặc sợ hãi. Tật này thường có tỷ lệ ở học sinh khoảng 5/1000 và thường xuất hiện từ lúc lên 5 hoặc 6 tuổi. Ngay từ khi 3 tuổi, trẻ đã nói cà lăm vì không diễn tả được ý tưởng của mình nhưng thường ít lâu sau khi đứa trẻ đã biết đủ tiếng nói thì tật này sẽ hết. Nhưng khi đứa trẻ đến tuổi cắp sách đến trường, sự ngỡ ngàng vì thay đổi nếp sống, sự hoang mang, sợ hãi làm đứa trẻ cà lăm rồi vì gia đình không mấy chú ý tới, vì bạn bè chế giễu, đứa trẻ thành e lệ, nhút nhát, không dám nói, nên khi cần nói thì rất khó khăn mặc dầu trí khôn vẫn phát triển như những đứa trẻ khác. Đôi khi cà lăm là triệu chứng của bệnh về não nhưng trường hợp này rất hiếm. Ở một vài gia đình cha hoặc mẹ cà lăm và con cái cũng cà lăm, tuy nhiên đó không phải là bệnh di truyền mà chỉ do sự bắt chước của trẻ nhỏ lâu ngày quen đi mà thôi.
Muốn chữa trị cần phải thật kiên nhẫn, trước hết phải tìm nhược điểm nặng, nhẹ của người mang tật bằng cách sau đây :
Bắt dọc một bài báo nhanh hơn bình thường rồi thật chậm.
Bắp lặp lại một vài tiếng khó
Bắt nút lỗ tai lại rồi đọc một bài báo
Ở những trẻ nhỏ nên tập cho chúng nói cho đúng từng câu ngắn, tránh sự chế giễu và nhái lại, những người thân nên thương mến chúng hơn và đừng la mắng.

Sau đó bỏ tay ra và diễn tả bằng cách phối hợp mắt và miệng

Sau khi đã tự huấn luyện một thời gian rồi ta có thể nhờ một người thân đoán tư tưởng qua nét mặt diễn tả, nếu người đó đoán đúng tức là ta đã thành công.
Giọng nói
Sau vẻ mặt là giọng nói. Nhiều khi không cần nhìn mặt mà qua giọng nói (nghe điện thoại chẳng hạn) là ta đã có cảm tình ngay với người đối thoại. Người ta có thể xét đoán tính tình qua giọng nói như sau :
Giọng quá cao, gằn giọng : dễ cáu giận, hay càu nhàu, khó tính
Giọng vừa phải, từ tốn : tính điềm đạm
Giọng trầm, mạnh tính cương quyết
Giọng trầm ấm : tính nghiêm trang
Giọng thì thầm : tính nhút nhát, hay nghi kỵ, không ngay thẳng
Bạn chú ý nghe giọng nói một người mà bạn cho là hay rồi so sanh với giọng nói của mình để tìm khuyết điểm mà sữa chữa, cần là giọng phải êm, không khô khan, không gằn giọng và cũng đừng the thé. Đừng nói quá lớn nhưng cũng đừng quá nhỏ. Đừng quá chậm làm người nghe nóng ruột nhưng cũng đừng quá nhanh để người đối thoại nghe không kịp và luôn luôn phải giữ vẻ tự nhiên. Lời nói cũng như vẻ mặt, diễn tả tâm trạng, ý nghĩ của mình cho nên phải tùy trường hợp mà áp dụng. Thật không còn gì bực mình cho người nghe khi ta thủ thỉ bằng một giọng trầm như tâm sự một câu nói rất vô duyên : “hôm nay trời nóng quá” hoặc trái lại cất cao giọng mà nói lớn “tôi yêu cô lắm”
Tắt tiếng
Muốn cho giọng tốt cần nhất là phải tập thở cho điều hòa, nhất là những người xúc động, thường hay mất tiếng, có thể tập đọc lớn những bài thơ, hát. Những người nói hay vấp nên tập đọc hàng ngày những câu nói khó, mỗi ngày một nhanh dần như : “nồi đồng nấu ốc, nồi đất nấu ếch” hoặc “một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng, bốn ông sáng sao, năm ông v.v…” Nếu khan tiếng nhất thời có thể ngậm kẹo bạc hà hoặc chữa mẹo bằng cách hơ con dao sạch lên than đỏ rồi vắt nước chanh cho chảy qua con dao đó xuống một cái chén. Dùng nước đó ngậm sẽ trong giọng. Đành rằng giọng nói là do thiên phú nhưng nếu ta cố gắng kiên nhẫn luyện tập ta cũng có thể sữa chữa được một đôi phần. Đôi khi giọng nói cũng chịu ảnh hưởng của các bệnh về cổ họng, về mũi; trường hợp này nên đến bác sĩ tai – mũi- họng xin chữa trị.

Đeo đồ trang sức

Trong những dịp trọng đại có thể đeo bông tai, đeo dây và vòng nhận hột xoàn hoặc những đồ trang sức lớn, lộng lẫy hơn tuy nhiên đừng nên đeo quá nhiều, phải giữ vẻ khiêm nhường kín đáo để người ngoài khỏi cho mình là một tủ kính hiệu kim hoàn.
Các thiếu nữ càng đeo đồ trang sức nhiều càng mất vẻ tươi trẻ, chỉ nên đeo một sợi dây thật giản dị hoặc một loại trang sức cài vào áo là đủ. Những loại quá lộng lẫy hoặc dây hột đá lớn chỉ dành cho các ca sĩ trình diễn trên sân khấu hoặc các cô dâu trong ngày cưới mà thôi.
Nếu cổ nhỏ chỉ nên đeo một sợi dây chuyền hoặc một chuỗi hạt thật thanh nhã. Nếu cổ cao đừng nên đeo loại trang sức sát vào cổ, có thể đeo dây hơi lớn hoặc những chuỗi hạt đôi.
Duyên dáng
Khi nhìn kỹ một người nào đó, nếu ta phân tích từng phần trên khuôn mặt, trên thân hình thì không thấy có điểm gì đặc biệt nhưng những cái tầm thường đó lại có một sức hấp dẫn kỳ lạ. Sức hấp dẫn đó chính là cái duyên. Duyên còn ở cả trong lời nói ý nhị, cử chỉ phù hợp trong khi nói chuyện nữa. Đôi khi sức hấp dẫn còn là sự kếp hợp của vẻ mặt và giọng nói, nụ cười cùng với điệu bộ đi đứng mà ta thường gọi là dáng. Vậy ta có thể nói rằng duyên dáng đi đôi với nhau.
Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng
Quan niệm theo Á Đông duyên dáng còn quan trọng hơn cả xinh đẹp.
Vẻ mặt
Điểm quan trọng nhất của cái duyên là vẻ mặt. Mặt đẹp chưa chắc là đã có duyên, đôi khi vẻ đẹp sẵn có cũng tựa như một bức tranh, một cái tượng hoặc một con búp bê mà thôi. Ngoài vẻ đẹp bộ mặt cần phải hấp dẫn, muốn như vậy phải tập diễn tả tư tưởng của mình bằng nét mặt. Ta đi xem phim vẫn thường thấy trong nhiều cuốn phim các tài tử đã dùng nét mặt để diễn tả cho ta rõ nội tâm. Vẻ mặt lạnh như tiền hoặc cau có sẽ làm mất cảm tình của người chung quanh. Ta có thể tập diễn tả tư tưởng bằng nét mặt như sau :
Ngồi trước một tấm gương, lấy khăn che nửa mặt chỉ còn để lại cặp mắt rồi tưởng tượng ra những cảnh vui, buồn, giận, ghét, ngạc nhiên v.vv… và tìm cách phản chiếu những tư tưởng ấy ra cặp mắt.
Bây giờ ta lại lấy bàn tay che hờ cặp mắt và diễn tả tư tưởng vui vẻ, thân yêu, gượng gạo, mỉa mai, giận dữ bằng cái miệng như cười tươi, mỉm cười, cười nửa miệng, bĩu môi, mím môi v.v…

Nếu dáng đi xấu

Giày cao gót có loại không quai, có loại có quai sau và có loại bịt kín gót. Loại bịt kín gót thịnh hành và lịch sự nhất nhưng khó đi vì đau chân. Đi giày cao gót có vẻ trang trọng, lịch sự nên đi vào những buổi tiệc tùng, đai lễ, hoặc đi chơi phố nếu bạn không đi bộ quá nhiều. Guốc cao gót cũng đẹp nhưng không được lịch sự, không nên đi trong các dịp tiếp tân, đại lễ. Giày trung bình chỉ cao từ 3 đến 6 centimét. Những người mập có thể đi giày gót nhọn nhưng chỉ nên cao từ 3 đến 4 centimét. Những người quá mập hoặc dáng đi xấu nên dùng dép đế bằng loại quai lớn. Nếu mặc áo hở cổ hoặc áo vẽ, thuê hoặc màu lộng lẫy nên dùng giày nhọn gót. Nếu mặc áo thường, quần tay hoặc phải đi bộ nhiều, nên đi dép đế bằng hoặc có thể đi guốc cao.
Mặc quần áo đen không nên đi giày màu trắng, mặc quần áo trắng không nên đi giày đen. Màu giày đừng tương phản với màu áo, thí dụ áo đỏ không được đi giày xanh hoặc trái lại. Nên sắm giày màu đen, xám, trắng hoặc màu nâu dễ đi với mọi màu áo. Trừ áo đen, các màu áo khác đều đi được với giày trắng nhưng thường hợp với áo màu lợt hơn. Trừ áo trắng, các màu áo khác có thể đi với giày đen nhưng thường thích hợp với áo sẫm màu.
Bóp (ví)
Bóp (ví) cũng phải đồng màu với giày hoặc nếu không thì cũng có màu tương tự chứ không thể màu đối chọi, nghĩa là ví màu trắng không thể đi với giày màu đen hoặc trái lại. Nếu có điều kiện thì giày nào ví nấy và mỗi màu áo môt đôi giày và ví phù hợp. Màu ví cũng không được đối chọi với màu áo.
Kiểu giày và ví cũng thay đổi luôn, nên theo thời trang nhưng cần thiết nhất là giản dị, đừng lố lăng. Những người nhỏ con không nên dùng ví lớn, nhưng cũng không nên dùng loại ví quá nhỏ thường chỉ dành cho các thiếu nữ. Những loại ví bằng cườm hoặc bằng kim khí chỉ dành riêng cho những buổi dạ hội, không nên dùng ban ngày và cũng không nên dùng khi mặc quần áo thường hoặc mặc quần tây.
Đồ trang sức
Đồ trang sức cũng phải phù hợp tùy trường hợp và lứa tuổi. Thường ngày chỉ nên đeo một dây chuyền nhỏ, một dây đeo tay giản dị hoặc đồng hồ. Các bà lớn tuổi có thể đeo một chuỗi cẩm thạch hoặc một vòng cẩm thạch và đừng dùng những loại dây xích lằng nhằng hoặc đồng tiền dài tới bụng, loại này chỉ dành riêng cho các thiếu nữ.

Nếu mập nên dùng màu đậm

Bông in trên áo lại ảnh hưởng nhiều tới dáng dấp. Nhiều người da trắng mặc màu gì cũng nổi, cũng đẹp. Người da đen phải thận trọng hơn trong việc lựa chọn màu.
Nếu da ngăm đen có thể dùng các màu sẫm, màu nhạt, kể cả màu trắng. Không nên dùng những màu quá rực rỡ hoặc quá đậm như xanh da trời sẫm, xanh dương, cá vàng, màu gạch non, xanh hoa lý, xanh lục, đỏ tươi, xám đậm, đen, tím, hồng đậm, vàng đậm.
Nếu da quá đen không nên mặc màu quá lợt như nõn chuối, trắng. Tránh những màu rực rỡ hoặc quá đậm như xanh da trời sẫm, xanh dương, cá vàng, màu gạch non, xanh hoa lý, xanh lục, đỏ tươi, xám đậm, đen, tím, hồng đậm, vàng đậm. Chỉ nên mặc những màu nhạt như màu mỡ gà, cà phê sữa, xám lợt, màu olive, hoa cà lợt, hồng thật lợt v.v…
Nếu mập nên dùng màu đậm, ốm nên dùng màu lợt.
Vải bông nên lựa chọn cẩn thận, màu sắc theo như trên. Người mập hoặc quá nhỏ không nên lựa chọn bông quá lớn. Người cao không nên lựa bông dày hay sọc thẳng mà nên lựa bông rời hoặc sọc ngang. Người mập và lùn không nên dùng sọc ngang hoặc kẻ ô vuông mà nên dùng sọc dài thẳng đứng v.v… Ngày nay có kiểu áo vẽ, áo thuê rất đẹp và lịch sự nhưng chỉ nên mặc khi đi chơi, dự tiệc; không nên mặc đi chợ, đi làm nếu thuê tay hoặc vẽ hoa lớn và màu sắc quá lộng lẫy. Đi chia buồn, đưa đám tang nên ăn mặc thật trang nhã. Có thể dùng màu trắng, đen hoặc xám, nâu. Áo hoa thuê rất lịch sự nhưng phải chọn lựa màu chỉ cho khéo léo.
Quần trắng phải thật trắng, quần đen phải thật đen. Nếu quần trắng bị vàng phải tẩy trắng bằng thuốc tẩy, quần đen có thể nhuộm lại. Bạn có thể mặc quần trắng trong mọi trường hợp, quần đen nên mặc nhựng lúc trời mưa hoặc mặc với áo sẫm màu và đồng thời dây đeo ngực, áo lót cũng phải sẫm màu. Không nên mặc quần áo lót màu xan, hồng trông kém đứng đắn. Đừng bao giờ mặc quần áo lót đen hoặc các màu sẫm với quần dài trắng. Nếu có những khuyết điểm của thân hình (eo, bụng) có thể dùng nịt bụng như đã chỉ dẫn trong phần eo, bụng.
Đồ phụ tùng
Những đồ phụ tùng dự một phần không nhỏ vào cách ăn mặc và tỏ rõ tính cách của người dùng. Đồ phụ tùng của nữ là giày, dép, bóp (ví) và đồ trang sức.
Giày – dép
Giày dép phải phù hợp với dáng người cũng như quần áo. Người quá mập, chân quá lớn hay bị sưng đau, hoặc bị tê thấp không nên dùng giày gót cao, nhọn.

Kiểu áo phương Tây

Nếu hàng quá mỏng hoặc lợt màu nên phải mặc áo lót. Nên canh chừng cho dây áo lót và quai của dây đeo ngực có thể gần nhau để tránh thấy cảnh dây chằng chịt trên mình.
Ngày nay có loại dây bằng nylon trong suốt nhìn không thấy rõ nhưng nên cẩn thận kẻo bị đứt khi kéo quá căng. Nếu bạn có bộ ngực nhỏ mà cần độn thêm thì mua loại đã may độn vào trong dây đeo ngực, không nên lựa kiểu quá nhọn trông sẽ lộ vẻ giả tạo; không nên đeo quá cao, nhất là đối với phụ nữ lớn tuổi và cũng không nên dùng thứ quá lớn. Đừng cẩu thả mua một cặp vú cao su giả nhét vào trong dây đeo ngực thường ngày; nếu vô ý vú sẽ bị lệch lạc hoặc rơi rớt và đôi khi áo quá mỏng trông sẽ lộ rõ rang. Chỉ nên đeo vú giả khi cần thiết, ở nhà không nên dùng vì hấp hơi, mau hỏng và vú thật cũng bị nhỏ thêm vì cao su làm da toát mồ hôi và thải các chất mỡ.
Ngày nay một số đông phụ nữ ta ưa mặc theo lối phương Tây. Kiểu áo phương Tây rất nhiều mà thay đổi luôn không thể nào nói hết được. Nhưng đại để như sau :
Quần tây mặc với blouse chỉ dùng khi đi chợ; đi cắm trại, không nên mặc đi phố, đi nhà thờ, đi chùa hoặc tới những nơi quan trọng. Loại quần ống lửng ¾ chỉ dùng cho người trẻ, cao và bắp chân không quá lớn. Người lớn tuổi không nên mặc quần quá chật hoặc quần ống chân voi. Người bụng lớn nên bỏ áo ra ngoài quần.
Váy mặc với blouse có thể mặc ở mọi nơi trừ những nơi quan trọng. Những người mông quá nhỏ không nên dùng váy chật. Những người lớn tuổi không nên dùng váy chun phồng, có thể dùng váy xếp nếp với điều kiện nếp gấp phải thật nhỏ. Loại váy có quai đeo cũng không thích hợp với người đứng tuổi. Những người quá mập, quá ốm, nhiều tuổi không nên mặc âu phục. Khi đi dự đại lễ cũng nên mặc áo dài vì người phụ nữ Việt Nam rất đẹp trong tà áo dài; phụ nữ ngoại quốc nếu có bắt chước cũng không thể nào có cái dáng dấp và vẻ yểu điệu của người phụ nữ Việt Nam. Nếu có khả năng hãy măc âu phục vì bạn phải có ít nhất là bốn bộ để thay đổi đó là chưa kể tới những phụ tùng cần thiết thích hợp như giày, bóp, nón, vớ v.v… cũng phải thận trọng trong việc lựa bông và màu sắc. Lịch sự nhất vẫn là hàng trơn và màu sắc nhã nhặn.

Áo dài Việt Nam

Khiếu thẩm mỹ do thiên phú nhưng cũng nhờ sự nhận xét tinh tế ở những người xung quanh mình để lựa chọn cái đẹp mà theo, cái xấu mà bỏ; phải bình tĩnh, can đảm nghe lời chỉ trích của người xung quanh mà sửa đổi.
Bắt chước người xung quanh không có nghĩa là theo một cách mù quáng cả cái hay và cái dở nhưng phải lựa chọn kỹ càng những cái hợp với cá nhân mình và lúc nào cũng phải giữ sự giản dị, suy tính kĩ càng, chú trọng tới từng chi tiết.
Kiểu áo
Áo dài Việt Nam chỉ có vài kiểu nên việc phải lựa chọn không mấy quan trọng. Tuy nhiên cũng phải biết tùy trường hợp, tùy lứa tuổi mà lựa chọn kiểu áo. Áo loại bâu cổ cao có thể mặc trong tất cả mọi trường hợp. Áo hở cổ, không bâu rất hợp với khí hậu nước ta. Mặc loại áo này phải trang điểm cẩn thận. Những người phụ nữ quá gầy, hai xương quai xanh nhô lớn hoặc da cổ quá đen không nên mặc áo hở cổ. Áo không bâu thích hợp với những người cổ ngắn. Những người cổ quá dài hoặc đã nhiều tuổi hoặc ngực nhỏ không nên mặc.
Những người quá ốm, quá mập không nên mặc áo quá eo. Cổ áo cao rất đẹp nhưng không nên cao đến nỗi đầu lúc nào cụng phải nghểnh lên như con hươu cao cổ. Cổ chỉ cao 5 đến 6 centimét là cùng. Người cổ ngắn hoặc nhiều tuổi chỉ nên may cao từ 3 đến 4 centimét. Nên lót cổ áo bằng loại nylon lưới, đỡ gãy khi giặt hoặc gấp áo và cũng đỡ nóng và đau cổ.
Quần mặc với áo dài không nên quá rộng mà cũng đừng quá chật. Trước đây phụ nữ miền Nam thường để nguyên cả khổ vải 90 centimét làm ống quần và còn phải nối thêm đáy. Quần may kiểu này hai ống quần đánh vào nhau khó đi lại trông tựa như một cái váy dài. Ngày nay một số phụ nữ lại mặc quần quá chật, ống nhỏ gần như bó sát vào chân trông cứng như quần tây làm mất vẻ thướt tha. Ống quần trung bình là 25 centimét (ống gấp đôi), người mập có thể may tới 30 hoặc 35 centimét. Quần phải mặc vừa dài, che khuất hết mắt cá và phải giữ luôn luôn phẳng phiu vì không có gì kém thẩm mỹ bằng người phụ nữ mặc một cái quần nhăn nhúm. Hàng may quần không nên quá mỏng.
Áo lót cũng phải sạch sẽ vì ta thường dùng áo dài hàng mỏng và kiểu áo Việt Nam xẻ tà (vạt) cho nên đôi khi làm lộ rõ áo lót. Ta có thể không mặc áo lót nếu áo dài bằng hàng dày hoặc sẫm màu.