Month: March 2016

Vitamin D trong thức ăn được ruột non hấp thụ qua phần mỡ của ruột

Trong tự nhiên, có một số loài cá biển thân nhiều chất béo, gan có nhiều vitamin D, như cá thu, cá ngừ, cá mòi, cá trích, lươn,… Vitamin D trong thức ăn được ruột non hấp thụ qua phần mỡ của ruột. Ngoài ra, còn loại vitamin D được điều chế ngay trong cơ thể. Đó là chất stérol ở nội bì của da, dưới tác dụng của các tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời sẽ chuyển hóa thành vitamin D. Đây là nguồn cung cấp chính, từ 50 – 70% vitamin D cho cơ thể.
Sự chuyển hóa thành vitamin D được nhiều hay ít tùy theo một số điều kiện sau :
Lượng thực phẩm có chứa ít hay nhiều canxi và phốtpho. Thực phẩm nấu chín thường mất 20% vitamin D.
Nơi sống có nhiều hay ít ánh sáng mặt trời (ở núi cao có ít tia tử ngoại, không khí có nhiều khói, bụi sẽ làm giảm tác dụng của ánh sáng mặt trời).
Da có màu sáng sẽ chuyển hóa được nhiều vitamin D hơn da có màu thẫm (từ 50 – 100 lần).
Nhu cầu về vitamin D của cơ thể
Cơ thể thiếu vitamin D sẽ bị ảnh hưởng xấu tới bộ xương, nhất là đối với trẻ em ở 2 năm đầu của cuộc đời. Những triệu chứng đầu tiên thường thấy ở đầu như xương ót và xương thái dương mềm, trán dô. Từ tháng thứ 6 tới 12, đã thấy trẻ em bị vẹo xương sườn và lồng ngực. Trẻ từ 1 tuổi trở đi dễ bị cong tay, chân vì các xương dài yếu dẫn tới hậu quả chậm biết đi hoặc đi khó.
ở người lớn, hiện tượng thiếu vitamin D sẽ làm đau nhức cơ bắp và xương, thường đau nhiều ở đoạn ngang hông, khi đi càng đau hơn. Hiện tượng đau có thể lan dần tới cột sống và lồng ngực.
Những người dễ bị thiếu vitamin D gồm :
Trẻ em, người già, phụ nữ thường hay mặc quần áo phủ kín người và ít ra ngoài nắng.
Trẻ em đang tuổi lớn, bộ xương phát triển nhanh.
Phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ.
Người bệnh kém ăn nên không đủ chất.
Người nghiện rượu.
Người bệnh phải dùng một số thuốc có tác dụng chống vitamin D như thuốc chống bệnh động kinh, thốc có dầu paraffin, thuốc cholestyramin…
Cũng giống như vitamin A, người dùng vitamin D quá liều lượng có thể bị ngộ độc. Trên thực tế, vitamin D2 được điều chế bằng phương pháp tổng hợp ở phòng thí nghiệm để bán cho người sử dụng dưới dạng thực phẩm.
Tuy vậy, việc ngộ độc vitamin D thường chỉ sẽ xảy ra khi người bệnh dùng thuốc liên tục trong nhiều tuần lễ với liều lượng cao (từ 25 – 75 ug/ngày với mỗi kg trọng lượng cơ thể).

Tác dụng của vitamin D đối với cơ thể người

Vitamin D (hay calciferol)
Vào cuối thế kỉ Xvi và đầu thế kỉ XVII, các bác sĩ ở nước Anh đã chú ý đến hiện tượng có nhiều trẻ em ở các khu lao động nghèo, nhà cửa thiếu ánh sáng thường bị bệnh còi xương.
Bác sĩ Francis Glison (1596 – 1677) ở ngành giải phẫu học nhận xét rằng xương của các trẻ em này mềm, dễ uốn cong, dẫn tới bị dị dạng khiến cho lưng vẹo, chân khoèo. Nhiều người nghĩ rằng đó là do thiếu ăn và điều kiện sống tồi tàn nên xương bị ảnh hưởng.
Hơn 100 năm sau (1782), bác sĩ Dale Percival mới có sáng kiến chữa bệnh còi xương bằng cách cho bệnh nhân uống dầu gan cá thu.
Rồi cũng phải chờ một thế kỷ sau (1890) mới lại có một bác sĩ nêu ra ý kiến cho rằng, tuy dầu gan cá thu có tác dụng tốt trong việc trị bệnh còi xương, nhưng muốn cho xương cứng cáp, còn cần phải có tác dụng của ánh sáng mặt trời nữa.
Năm 1919, Mac Collum và Mellanbourg phát hiện trong dầu gan cá thu có 2 vitamin là vitamin A và vitamin D. Cùng thời gian này (1921) bác sĩ Huldechinky đã sử dụng tia tử ngoại để điều trị bệnh còi xương, còn Hess và Steenbook khẳng định có một chất nào đó ở trong da khi được ánh nắng chiếu vào sẽ có tác dụng chống bệnh còi xương.
Mãi tới năm 1928, nhà hóa học người Đức Windaus mới tách được từ vitamin D ra 2 dạng vitamin khác nhau là vitamin D2 và vitamin D3. Công trình này đã đưa lại cho ông một giải Nobel về hóa học. Vitamin D2 còn có tên là ergocalciferol, được lấy ra lần đầu tiên từ mầm lúa mì, còn vitamin D3 có nguồn gốc động vật : chất cholesterol ở lớp da động vật sẽ chuyển hóa thành vitamin D3 do tác dụng của ánh nắng mặt trời.
Tác dụng của vitamin D đối với cơ thể người
Vitamin D có tác dụng kích thích ruột hấp thụ các chất dinh dưỡng có canxi và phốtpho, tăng lượng canxi trong máu ở xương, kích thích thận hấp thụ các hợp chất có phốtpho. Tất cả các hiện tượng này đều dẫn tới một kết quả chung là làm cho bộ xương thêm rắn chắc.
Ngoài ra, vitamin D còn làm cho chất canxi dồn lên các tuyến sữa của người mẹ, dự phần chuyển chất canxi từ nhau thai tới thai, kích thích sự phát triển của tế bào da, tham dự vào sự hoạt động của các cơ bắp, sự tổng hợp insulin trong tụy.
Nguồn vitamin D
Có 2 nguồn vitamin D.

Dị ứng da bởi ánh nắng mặt trời

Trong một số tài liệu giới thiệu hoặc quảng cáo thuốc có vitamin A hay có beta-carôten, người ta thường dùng đơn bị E.R (Equivalent Retinol).
1 E.R tương đương với 6 microgam beta-carôten. Sau đây là lượng beta-carôten có trong 100 g thực phẩm :
Thực phẩm rau quả (u/g – ER/100g)
Khoai tây 20 (3 E.R)
Ngô (bắp) 400 (66 E.R)
Khoai lang 7700 (1283 E.R)
Cây mùi tây (ngò) 8320 (1386 E.R)
Cà rốt 12000 (2000 E.R)
Cam 60 (10 E.R)
Quả đào 880 (146 E.R)
Quả mơ 2790 (465 E.R)
Dưa hấu 3420 (570 E.R)
Việc sử dụng vitamin A và beta-carôten
Để tăng cường sức khỏe hoặc để chữa bệnh, chúng ta có thể ăn các thực phẩm có chứa vitamin A hoặc beta-carôten, hoặc dùng các dược phẩm ở dạng thuốc uống, thuốc nhỏ mắt, thuốc bôi da. Những thuốc này có thể được điều chế từ các thực phẩm hoặc bằng các vitamin tổng hợp.
ở các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển có tỹ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng cao, người ta thường cho trẻ uống vitamin A liều cao, mỗi năm 2 lần (6 tháng/lần).
một số bệnh ngoài da được chữa trị bằng thuốc bôi ở dạng mỡ (pom-mát) có chứa vitamin A tổng hợp. Một số bệnh về mắt được chữa trị bằng thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc mỡ có vitamin A.
Một số trường hợp trị bệnh trẻ em cần phải dùng tới vitamin A, thường được phối hợp với vitamin E. Nói chung, viêc sử dụng vitamin A cho trẻ em và phụ nữ có mang đều phải thận trọng để tránh trường hợp dùng quá liều lượng.
Sau đây là liều lượng vitamin A (ít nhất có 60% ở dạng beta-carôten) thường được bác sĩ chỉ định dùng hàng ngày, khi cần :
Vitamin A (60% beta-crôten)
Liều lượng (ug/ngày)
Đối tượng
Trẻ sơ sinh 350 – 400
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 350 – 400
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 500 – 800
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 700 – 900
Nữ từ 13 – 19 tuổi (đang tuổi lớn nhanh) 800 – 1000
Nam từ 13 – 19 tuổi 900 – 1000
Nam, nữ trên 19 tuổi 800 – 900
Phụ nữ có mang 900 – 1000
Phụ nữ cho con bú 1300 – 1400
Các bác sĩ thường dùng beta-carôten với liều lượng cao, được điều chế từ các nguyên liệu có trong tự nhiên (rau, quả) để chữa trị hoặc phòng bệnh trong các trường hợp :
Dị ứng da bởi ánh nắng mặt trời
Chống hiện tượng da bị viêm nhiễm tái phát, thường phối hợp với vitamin C, E và đôi khi với các nguyên tố kẽm (Zn) hoặc selen (Se).
Tăng cường khả năng miễn nhiễm cho người cao tuổi, người thi đấu các môn thể thao, người tiểu đường, suy gan, suy thận, đau khớp, đề phòng đau ngực, bệnh tim mạch và ung thư.

Nguồn vitamin A trong tự nhiên là các thực phẩm lấy từ động vật

Phần lớn vitamin A của cơ thể được lưu giữ ở gan kể cả lượng vitamin A dư thừa cũng vậy. Rất khó xác định được như thế nào là đã làm cho cơ thể hấp thụ trong ngày một lượng vitamin A quá mức cần thiết vì cơ thể có khả năng nhận một lượng vitamin A quá mức bình thường từ 20 tới 50 lần, mà vẫn không sao cả. Tuy nhiên hậu quả của việc này có thể xảy ra sau nhiều tháng hoặc nhiều năm.
Cơ thể bị dư thừa quá mức vitamin A sẽ ảnh hưởng tới não, gây ra các triệu chứng buồn nôn hoặc nôn – ói, đau đầu, hoa mắt, nhức xương, da khô, ngứa, rụng tóc, tổn thương gan hoặc xơ gan.
Việc ngưng dùng vitamin A sẽ làm cho các triệu chứng trên mất đi trừ hiện tượng nhức xương và xơ gan (nếu đã bị).
Ở người phụ nữ đang mang thai, việc dư thừa vitamin A không gây ra những triệu chứng rõ ràng như trên, nhưng lại rất tai hại vì ảnh hưởng xấu tới cái thai (nhất là trong 2 tháng đầu) khiến thai có thể bị dị dạng. Bởi vậy, những người phụ nữ đang ở độ tuổi sinh nở, nhất là đang mang thai, nếu cần phải dùng vitamin A, nhất thiết phải dùng theo đúng liều lượng mà bác sĩ đã hướng dẫn và ngưng ngay việc sử dụng khi đã dùng hết liều thuốc được chỉ định.
Việc dùng quá liều lượng các chất tiền sinh tố như chất beta-carôtên không có hại, nhưng cũng có thể làm cho da có màu vàng. Hiện tượng này sẽ mất đi sau khi ngưng sử dụng. Riêng những người nghiện thuốc lá (hoặc đã cai nghiện) không nên dùng các tiền sinh tố (carotenoid) nguyên chất mà chỉ nên dùng các thuốc có carotenoid đã pha chế với những chất khác để tránh cho các tế bào phổi bị lão hóa nhanh.
Nguồn vitamin A trong tự nhiên
Nguồn vitamin A trong tự nhiên là các thực phẩm lấy từ động vật như : gan, cá, dầu mỡ cá, bơ, pho mát làm từ sữa bò.
Chất beta-carôten và các carotenoid khác có trong các rau, quả, phần lớn có màu đỏ, vàng hay xanh thẫm như : cà rốt, củ cải đỏ, cà chua (tô – mát), dưa hấu, xoài, cải bắp, rau cải đắng, rau cải xoắn (crét-sông)… và cả ở một số thực phẩm có nguồn từ động vật như lòng đỏ trứng, tôm, thịt gà, cá hồi….
Sau đây là lượng vitamin A tương đương, tính ra microgam, có trong 100 g thực phẩm :
Thực phẩm từ các động vật (u/100g)
Gan động vật 5000 – 120000
Dầu gan cá thu 85000
Trứng chin 1140
Bơ 3300
Phô mai (pho-mát) 1020
Lươn 2000
Cà mòi (sác đin) 710
Sữa bò 140

Da khô

Các nhà khoa học đã nêu ra 6 tác dụng quan trọng nhất của vitamin A đối với cơ thể người như sau :
Vitamin A rất cần thiết cho thị giác vì tham gia vào sự hình thành các tế bào của võng mạc. Ngoài ra, các tiền vitamin A còn có khả năng cùng phối hợp với vitamin C ngăn chặn bệnh nhài quạt làm đục thủy tinh thể và sự thoái hóa của các tế bào võng mạc có thể dẫn tới sự mù lòa.
Vitamin A tham gia vào việc đổi mới lớp biểu bì nên rất có tác dụng làm cho vết thương của da mau lành
Những tiền vitamin A (carotenoit) có khả năng ngăn chặn sự phát triển của một số bệnh ung thư (như ung thư miệng), trong khi vitamin A làm cho các tế bào bệnh chóng bình phục.
Vitamin A và các carotenoit đều có tác dụng hỗ trợ khả năng miễn nhiễm của cơ thể, nên được dùng trong việc chữa trị bệnh sởi, bệnh HIV/AIDS.
Chất beta-carôten cùng các carotenoid khác có tác dụng giống như vitamin E, chống được sự lão hóa của cơ thể nói chung, và sự thoái hóa cũa các mạch, các đốt xương ở cột sống nói riêng. Chúng cũng hạn chế được sự thoái hóa của các tế bào cơ thể do tác hại của tia nắng mặt trời, của bệnh tiểu đường, của chất độc trong thuốc lá.
Vitamin A kích thích sự tăng trưởng của các tế vào nên rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể, nhất là đối với phôi thai, trẻ sơ sinh và trẻ em đang lớn.
Nhu cầu về vitamin A của cơ thể người
Cơ thể người cần duy trì một lượng vitamin A vừa đủ hoặc tối thiểu, sao cho không thiếu nhưng cũng không thừa. Vì thiếu và thừa đều sinh ra bệnh.
Cơ thể thiếu vitamin A sẽ có những triệu chứng như sau :
Mắt kém, ít khả năng nhìn thấy mọi vật trong ánh sáng lờ mờ vào buổi sáng sớm hoặc buổi chiều; hay bị viêm giác mạc.
Da khô, thường dễ bị viêm da ở đùi và ở cẳng chân.
Phỗi và phế quản dễ bị viêm nhiễm
Trẻ chậm lớn. Trẻ em dưới 6 tuổi dễ dẫn tới trạng thái bị suy dinh dưỡng và mắc các bệnh do sự suy dinh dưỡng gây ra.
Những người dễ bị thiếu vitamin A gồm :
Những trẻ em chậm phát triển do không được ăn đủ chất
Những người phải ăn kiêng do bệnh tật hoặc thích ăn chay dài ngày.
Những người già kém ăn hoặc không được nuôi dưỡng tốt.
Những người bị bệnh về gan, về đường tiêu hóa.
Những người phải dùng thuốc trị bệnh trong thời gian dài, nhất là những thuốc có corticoide, thuốc nhuận tràng có dầu paraffin.

Vitamin A (Retinol) và các Carôtênôit

So sánh với các vitamin tan trong nước, thì những loại vitamin như A, D, K, E đều bền hơn ở nhiệt độ cao, nhưng cũng dễ bị phân hủy bởi ánh sáng và ôxy của không khí, chúng có một số tính chất giống các hoóc-môn.
Sinh tố A hay vitamin A còn có tên là Retinol vì có tính rượu (alcol) và rất cần cho võng mạc của mắt (retine). Vitamin A có 2 dạng : dạng sinh tố A (retinol) và dạng tiền sinh tố A, còn được gọi là carotenoit. Các nhà khoa học đã tìm thấy gần 600 chất carotenoid. Đứng đầu nhóm này là chất beta-carôten. Gọi là tiền sinh tố A hay tiền vitamin A, vì đây là dạng vitamin A được lưu trữ trong cơ thể và phần lớn sẽ được chuyển thành retinol tùy theo nhu cầu của cơ thể.
Các tiền vitamin A thường có trong những rau quả có màu sắc, còn vitamin A chỉ có trong thịt, cá. 90% vitamin A của cơ thể động vật được tích lũy tại gan. Phần còn lại được phân phối tản mạn ở các tuyến thượng thận, thận, phổi, da và ruột non. Riêng các chất carotenoid thì có mặt rộng rãi hơn trong các mô tế bào, hòa tan trong các chất béo lưu động trong khắp cơ thể, giúp các màng tế bào, da, võng mạc của mắt…. chống lại sự lão hóa và những tác hại của tia nắng mặt trời.
Từ 1500 năm trước Công nguyên, người ta đã biết cho các bệnh nhân ăn gan bò để trị bệnh tổn thương về giác mạc. Trong thời kỳ đầu của Công nguyên, Hippocrate đã xác nhận gan có một chất gì đó rất cần cho thị giác, mà người thiếu chất đó có thể bị mù.
Năm 1909, các nhà sinh – hóa học Hopkins và Steep tìm ra được một chất đặc biệt trong sữa có vai trò rất quan trọng đối với sự tăng trưởng của cơ thể và gọi chất này là vitamin A.
Nhưng phải mãi tới năm 1931, Karrer mới cô lập được chất vitamin này ra khỏi các chất khác từ dầu gan cá thu và tới năm 1947, vitamin A mới được điều chế bằng phương pháp tổng hợp bởi nhà hóa học Ister.
Vitamin A là một chất sánh, màu vàng, không tan trong nước nhưng tan trong các chất béo, ête, axêtôn và clorofoóc (CHCl3), chịu được nhiệt độ cao nhưng dễ bị phân hủy bởi ánh sáng và không khí. Các tiền vitamin A và các dẫn xuất của vitamin A bền hơn vitamin A rất nhiều, thường dễ được ruột hấp thụ vào cơ thể từ các thực phẩm, sau đó được chuyển thành vitamin A và tích lũy ở gan.
Tác dụng của vitamin A với cơ thể của con người

Cần ngưng dùng vitamin C 24 giờ trước khi thử máu

Sau đây là liều lượng vitamin C thường được các bác sĩ chỉ định dùng mỗi ngày, tính ra miligam, cho các trường hợp :
Để hỗ trợ sức khỏe : dùng 100 – 500 mg/ngày cho những người kém ăn, ăn không đủ chất.
Để chữa bệnh và phòng bệnh : có thể dùng trên 500 mg/ngày cho những đối tượng : viêm tai – mũi – họng, người già có sức đề kháng bệnh yếu, người bị bệnh tiểu đường, người nghiện rượu, nghiện hút, người phải làm việc ngoài nắng, người bị bệnh ngoài da (Herpès, mụn nhọt, Zona…), người bị suy gan, suy thận, dị ứng.
Người hay bị mệt mỏi, đau nhức (phối hợp với magiê (Mg)), người bị ho, hen, cảm cúm, khó thở,…
Người cần phòng các bệnh : ung thư, tim mạch, huyết áp cao, thừa cholesterol xấu, dư mỡ trong máu, bị bệnh nhài quạt (đục thủy tinh thể của mắt).
Liều dùng hỗ trợ sức khỏe bình thường tính ra miligam hàng ngày như sau (mg/ngày) :
Trẻ sơ sinh (sau 1 tháng) 33
Trẻ từ 1 – 3 tuổi 35
Trẻ từ 4 – 12 tuổi 40 – 60
Người lớn, người già 60 – 100
Phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú 80 – 100
Những công trình nghiên cứu về vitamin C gần đây cho biết vitamin C có tác dụng ức chế các khối u nói chung nên có tác dụng tích cực trong việc phòng chống các loại ung thư như : ung thư miệng, họng, thanh quản, dạ dày, tụy, phổi, cổ tử cung, bàng quang, ruột, hậu môn. Ngoài ra, vitamin C cũng có tác dụng tốt, tuy chưa rõ lắm, để chống các loại ung thư vú, dạ con, buồng trứng ở phụ nữ và tuyến tiền liệt ở nam giới.
Những người bị khó thở do nghiện hút hoặc bị các bệnh về phổi khi dùng vitamin C cảm thấy dễ thở hơn, Bởi vậy, các nhà chuyên môn cho rằng vitamin C còn có tác dụng bảo vệ các khí quản và kích thích sự hô hấp.
Cho rằng vitamin C ảnh hưởng xấu tới giấc ngủ là không rõ rang và có thể chỉ xảy ra với một số ít người đặc biệt nhạy cảm với vitamin này. Tuy nhiên, để đề phòng, người ta thường tránh uống hoặc tiêm vitamin C vào buổi tối.
Các loại vitamin dễ tan trong chất béo
Những loại vitamin A, D, K, E thuộc loại vitamin tan trong chất béo. Những loại vitamin tan trong nước đều dễ bị thải ra ngoài cơ thể theo đường tiêu – tiểu, còn các loại vitamin tan trong chất béo thường sẽ được lưu giữ trong cơ thể lâu hơn. Tuy nhiên, nếu cơ thể chứa quá mức sẽ có khả năng bị ngộ độc hoặc mắc một số bệnh.

Việc sử dụng vitamin C ở người

Thí dụ, để phòng chống bệnh ung thư, cần phải dùng tới 200 mg/ngày.
Triệu chứng thiếu vitamin C ở người
Ngày nay, ở các nước mà người dân có điều kiện ăn uống đầy đủ, thì bệnh scorbut không còn tồn tại nữa. Tuy nhiên, hiện tượng cơ thể bị thiếu vitamin C vẫn còn ở một số người và thường được thể hiện qua một số triệu chứng như sau :
Chảy máu ở chân răng (lợi)
Người mệt mỏi, ăn không ngon miệng, dễ bị nhiễm bệnh hay đau mình mẩy, vết thương (nếu có) hoặc các vết xây sát lâu lành, xương yếu.
Trẻ em thường ốm yếu, gầy còm, người lờ đờ ít hoạt động, hay bị chảy máu cam hoặc da bầm tím vì tụ máu.
Nguồn vitamin C trong tự nhiên
Nguồn vitamin C chủ yếu ở trong rau quả, nhưng số lượng nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiều điều kiện như : khí hậu, chất đất, rau tươi hay đã hái từ nhiều ngày, việc bảo quản v.v…
Những quả có chứa nhiều vitamin C thường có vị chua (cả khi chin cũng còn giữ được một phần vị chua lẫn trong vị ngọt), như : quả dâu, cam, quýt, v.v….
Sau đây là lượng vitamin C trung bình tính ra miligam có trong 100g một số thực phẩm (mg/100g) :
Rau củ
Cà rốt 5 – 10
Măng tây, rau xà lách 15 – 30
Bắp cải 30 – 60
Hoa lơ (xúp lơ) 60 – 80
Rau cải xoong 75 – 79
Đậu Hà Lan 10 – 30
Đậu hạt 20
Khoai tây 20
Củ cải 20
ớt ngọt 20 – 33
Tỏi tây 15 – 30
Hành tây 10 – 30
Cây mùi tây (ngò) 170
Quả
Chuối 10
Dứa (thơm) 17
Dưa chuột (dưa leo) 13 – 33
Táo 10 – 33
Lê, nho 7 – 14
Bưởi 40
Dâu tây 40 – 90
Chanh 50
Xari, dâu tây 56 – 77
Xoài 62
ổi 250 – 300
Thịt sữa
Thịt bò, heo, cá 0 – 2
Sữa bò 1 – 2
Sữa mẹ 3 – 6
Việc sử dụng vitamin C
Khi dùng vitamin C ở dạng viên để uống, nên dùng sau bữa ăn vì uống lúc đói, vitamin C sẽ chuyển mau tới ruột già, ngấm vào phân và bị thải ra ngoài. Uống quá liều, không hại cho sức khỏe nhưng có thể bị đi tiêu chảy. Ngoài ra, có một số điều không nên khi dùng vitamin C như sau :
Không nên cho trẻ sơ sinh uống vitamin C ở tháng tuổi đầu tiên, vì sẽ làm cho máu của trẻ nhỏ bị mất đi chất sắt (Fe).
Không nên uống vitamin C cùng với các loại thuốc có chất sắt (Fe) hoặc đồng (Cu) vì sẽ làm cho các tế bào mau bị oxy hóa, có nghĩa là bị lão hóa nhanh hơn. Cũng vì lý do trên, những người bệnh thừa chất sắt, không nên uống vitamin C.

Vitamin C có thể có vai trò tổng hợp một số hoóc – môn

Chống sự oxy hóa nên bảo vệ được các màng tế bào, chống lại sự lão hóa.
Kích thích sự tổng hợp và duy trì sức bền ở các tế bào của da, gân, mạch máu, răng, xương…
Tham gia tổng hợp một số tế bào thông tin có liên quan tới sự chú ý tập trung trí tuệ.
Giúp cơ thể hấp thụ dễ dàng chất sắt và loại bỏ các nguyên tố kim loại độc hại như chì (Pb), Cadimi (Cd) và những chất độc khác.
Kích thích hoạt động của hệ thống miễn nhiễm, giúp cơ thể chống lại sự viêm nhiễm do vi khuẩn và virút.
Hạn chế sự hoạt động của chất histamine, là chất có khả năng gây dị ứng và sẩy thai (làm bong nhau thai).
Ngoài ra, vitamin C còn có tác dụng phòng bệnh và hạn chế sự phát triển của một số bệnh như : ung thư, tim mạch, ho, bệnh về mắt.
Nhu cầu về vitamin C của cơ thể người
Vitamin C là loại vitamin mà cơ thể cần thiết nhất về lượng. Trong khi mỗi ngày cơ thể chỉ cần một vài miligam (mg) hoặc microgam (ug) đối với các vitamin khác, thì nhu cầu về vitamin C phải là vài chục miligam. Vậy mà cơ thể lại không tự tổng hợp được. Nhu cầu về vitamin C còn tăng thêm đối với những trường hợp :
Phụ nữ mang thai hoặc nuôi con bằng sữa mẹ.
Trẻ em đang ở độ tuổi phát triển.
Các vận động viên cần thi thố sức lực.
Người bị lao lực, người bị stress, người nghiện rượu, nghiện thuốc lá (vì thuốc lá phá hủy vitamin C).
Người làm việc ở nơi không khí bị ô nhiễm, cơ thể bị viêm nhiễm.
Người cao tuổi
Người đang dùng các thuốc trị bệnh, thuốc ngừa thai.
Người cần phòng chống hoặc điều trị các bệnh như ung thư, tim mạch hoặc tiểu đường.
Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy khi lượng vitamin C trong cơ thể chỉ có 300 mg trở xuống, thì người sẽ bị mắc bệnh scorbut. Ngoài ra, mỗi ngày cơ thể thải ra ngoài từ 60 – 80 mg vitamin C nên cần phải nhận vào ít nhất là một lượng tương đương để duy trì lượng vitamin C cần thiết trong cơ thể.
Sau đây là liều lượng vitamin C tính ra miligam, thường được các bác sĩ chỉ định dùng mỗi ngày cho các đối tượng (mg/ngày) :
Trẻ sơ sinh 35
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 35
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 40 – 60
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 40 – 60
Trẻ em từ 13 tuổi trở lên và người lớn 60 – 100
Phụ nữ mang thai 70 – 100
Phụ nữ cho con bú 80 – 100
Những người có nhu cầu đăc biệt, cần dùng liều lượng cao hơn.

Dễ bị ion hóa trong môi trường kiềm

Người ta đã cảm nhận thấy một cách mơ hồ về nguyên nhân của bệnh scorbut, có lẽ là do người bệnh không được ăn rau, quả tươi, nhưng vẫn còn nghĩ rằng do cả về thời tiết lạnh, ẩm và tâm trạng buồn rầu của các thủy thủ lúc xa nhà.
Cho mãi tới năm 1907, những cuộc thí nghiệm trên động vật của Hobst và Frưlich mới chứng minh rõ ràng, nếu không được ăn rau, quả tươi, loài vật cũng bị bệnh scorbut.
Trong rau, quả tươi – đặc biệt ở quả chanh và cam – có một chất rất cần thiết cho cơ thể người và động vật, mà các nhà hóa – sinh học Funk và Drummond xếp vào loại vitamin và gọi là vitamin C. Cơ thể của người và các động vật nói chung (trừ loài chuột và chim bồ câu) không tổng hợp được vitamin C.
Ngày nay, bệnh scorbut do thiếu vitamin C không còn hoành hành như xưa nữa vì người ta đã biết dùng vitamin C trong việc điều trị bệnh và phòng bệnh. Tuy vậy, ở một số nước nghèo, thiếu thực phẩm (như ở Sômali – một nước ở châu Phi), căn bệnh này vẫn còn xuất hiện vào mùa khô.
Mỗi kilogram cơ thể người có chứa 20 – 50 mg vitamin C (20 – 50 mg/kg). chủ yếu ở bạch cầu, gan, thận, trong chất màu vàng ở trứng phụ nữ, tuyến thượng thận, tuyến yên, lợi, thủy tinh thể của mắt…
Vitamin C là một vitamin kém bền nhất, rất dễ bị phân hủy bởi :
Ánh sáng (nên để nước quả trong những chai có màu).
Nhiệt độ cao (càng đun nước thực phẩm lâu, càng làm cho lượng vitamin C mất đi nhiều hơn).
Sự tiếp xúc với các enzyme.
Sự tiếp xúc với các kim loại, đặc biệt là sắt và đồng (bởi vậy, không nên nấu mứt hoa quả bằng nồi đồng).
Dễ bị ion hóa trong môi trường kiềm.
Những thực phẩm để ngoài không khí cũng bị mất vitamin C theo thời gian, khi bảo quản :
Mỗi tháng, khoai tây bị mất 15% vitamin C.
Rau cải, xu hào mất hết vitamin C trong vài ngày.
Nước cam giữ được lượng vitamin C nếu được bảo quản trong chai đậy mút kín và để ở chỗ tối, nhưng sẽ mất rất nhanh khi mở nút.
Tác dụng của vitamin C với cơ thể người
Trước kia, người ta nghĩ rằng vitamin C chỉ có tác dụng chữa trị bệnh scorbut, nhưng càng về sau này, người ta càng thấy vai trò của vitamin C đối với cơ thể người rất đa dạng. Nó tham gia nhiều phản ứng hóa học trong quá trình chuyển hóa chất ở các tế bào. Do lượng vitamin C có nhiều ở các tuyến nội tiết như tuyến thượng thận, tuyến giáp, tuyến sinh dục.