Month: March 2016

Chữa trị chứng ngộ độc do xyanua

Điều trị đau dây thần kinh : đau dây thần kinh (hông), đau dây thần kinh cổ, đau dây thần kinh mắt
Thúc đẩy sự chuyển hóa chất, trị bệnh suy nhược (thường phải dùng liều cao).
Điều trị những tổn thương giác mạc của mắt ở dạng thuốc nhỏ mắt
Phòng sự giảm sút về sức khỏe và trí nhớ ở người cao tuổi.
Vitamin B12 không gây tác hại khi dùng quá liều. Tuy nhiên, việc dùng vitamin B12 liều cao liên tục trong thời gian dài có thể làm xuất hiện trong cơ thể chất kháng vitamin B12.
Một số người có phản ứng nhẹ với vitamin B12 như : bị ngứa, nổi mẩn đỏ hoặc bị đau nhức ở chỗ tiêm, nước tiểu có màu đỏ nhạt, kể cả khi dùng vitamin B12 ở dạng uống.
Vitamin C
(hay axít ascorbic)
Vitamin C còn được gọi là axít ascorbic do được dùng để chữa trị bệnh scorbut. Tuy mãi tới năm 1928, vitamin này mới được tách riêng ra tử lớp màng bao tuyến thượng thận và từ quả chanh, bởi nhà hóa – sinh học Szent-Gyưrgyi, nhưng người ta đã cảm nhận được vai trò quan trọng của nó đối với cơ thể con người từ thuở rất xa xưa.
Trong những tài liệu còn để lai, Hippocrate – người được coi là ông tổ ngành y ở châu u (460 – 377 trước Công nguyên), đã nói tới một căn bệnh nguy hiểm có những triệu chứng giống như căn bệnh mà các thủy thủ ở châu u thường gặp trong các cuộc hành trình vượt đại dương ở thế kỷ XV, XVI sau này. Như sau một chuyến đi biển từ châu u sang châu Mỹ (Canada) của thuyền trưởng Jacques Cartier với 110 người, chỉ có 10 người thoát khỏi căn bênh gớm ghiếc làm cho họ rụng răng, đau khớp, thiếu máu, da thịt rách nát vì hoại thư…. Và dẫn tới cái chết. Năm 1740 – 1741, sau một chuyến đi vòng quanh thế giới, đoàn thủy thủ trên hai con tàu Centuron và Gloucester cũng bị chết 592 người vì căn bệnh này. Con số tử vong của những người Anh đi biển này còn lớn hơn cả số binh lính bị chết trong trận chiến giữa 2 nước Pháp và Tây Ban Nha hồi đó.
Năm 1953, một đại úy người Anh tên là James Lancaster, vừa do sự tình cờ và vừa do kinh nghiệm, đã cho các thủy thủ của mình uống nước chanh trong suốt thời gian họ lênh đênh trên biển cả, và đã tránh được căn bệnh hiểm nghèo trên mà họ gọi đó là bệnh scorbut. Sau đó một đạo luật về hàng hải ở nước Anh được ra đời, bắt buộc các thuyền trưởng phải cho các thủy thủ ăn chanh trên những chuyến đi biển dài ngày.

Người nghiện rượu

Bị rối loạn về máu : hồng huyết cầu dị dạng, thiếu máu, bạch cầu bị suy yếu.
Những người dễ bị thiếu vitamin B12 gồm :
Người ăn chay (kiêng thịt) và con của những bà mẹ ăn chay nuôi con bằng sữa của mình
Người cao tuổi (càng ngày càng ăn ít nên cơ thể cũng hấp thụ ít vitamin B12)
Người bị đau dạ dày (bao tử), dạ dày tiết ra không đủ chất dịch có tính axít, một phẩn dạ dày hoặc ruột bị cắt bỏ, đặc biệt là đoạn cuối của ruột (hồi tràng) bị dị dạng.
Những người phải dùng các thuốc chữa bệnh có tính chất kháng vitamin B12, như thuốc chống tiểu đường, chống ung thư, thuốc chữa bệnh gút, thuốc kháng sinh, kể cả thuốc ngừa thai.
Nguồn vitamin B12 trong tự nhiên
Thực vật không cần vitamin B12 để sinh trưởng nên cũng không chứa vitamin này trong thành phần của nó. Động vật nói chung và người nói riêng đều cần vitamin B12, nhưng cơ thể lại không tự tổng hợp được nên phải tìm nguồn cung cấp ở các thực phẩm.
Trong tự nhiên, vitamin B12 chỉ được tổng hợp bởi các vi sinh vật và các vi khuẩn. Một số động vật quen uống nước ao tù, ăn các lá cây, các thực phẩm đã bị úa hoặc lên men có chứa các vi khuẩn nên vô tình đã nhờ các vi khuẩn này tổng hợp vitamin B12 ngay trong ruột của mình. Điều này cũng giải thích việc loài nhai lại (như con bò) có khả năng tổng hợp vitamin B12 ở ruột.
Sau đây là lượng vitamin B12 tính ra microgam (ug) có trong 100 g thực phẩm :
Gan bò 1000
Gan gà 200
Thịt bê 16
Cá 10 – 40
Trứng 7 – 30
Thịt cừu 13 – 25
Phô mai (pho-mát) 5 – 10
Thịt lợn (heo) 5
Thịt gà 4
Sữa mẹ 1,1 – 5 ug/ml
Sữa bò 3 ug/ml
Nhu cầu về vitamin B12 của cơ thể người
Hàng ngay, cơ thể người vẫn thải một lượng vitamin B12 ra ngoài theo đường tiêu hóa, nên cần được bổ sung, nhất là đối với những người kém ăn, ăn kiêng theo chế độ, ăn chay (không ăn thịt)
Sau đây là liều lượng vitamin B12, tính ra microgam thường được các bác sĩ chỉ định dùng hàng ngày cho từng đối tượng (ug) :
Trẻ sơ sinh 1
Trẻ từ 1 – 12 tuổi 2
Trẻ từ 13 – 19 tuổi 3
Người lớn 3
Phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con bằng sữa mẹ 4
Những người cần bổ sung vitamin B12 có thể dùng thuốc uống hoặc tiêm chích (trong trường hợp cơ thể khó hấp thụ thuốc)
Vitamin B12 thường được dùng phối hợp với vitamin B1 và B6 để có tác dụng giảm đau.

Người xanh xao do thiếu máu

Chất cobalamin còn có trong một loại nấm có tên Streptomyces griseus, được dùng làm thuốc streptomycin.
Hiện nay, vitamin B12 được các hãng dược phẩm sản xuất ở dạng ống thuốc để tiêm (chích) hoặc ở dạng viên để uống.
Vai trò của vitamin B12 đối với cơ thể người
Vitamin B12 là một chất giữ được tính bền ờ nhiệt độ cao (bền tới 120oC), khó bị oxy hóa nhưng lại dễ biến chất bởi ánh sáng, ít tan trong rượu và các dung môi hữu cơ nhưng lại rất dễ tan trong nước. Bởi vậy, trong quá trình rửa sạch hay nấu chin, các thực phẩm chỉ còn giữ lại được rất ít vitamin này. Cơ thể người có thể tích lũy được 3-4 mg vitamin B12, chủ yếu ở gan. Lượng vitamin này có thể đáp ứng đủ nhu cầu của cơ thể trong 5 năm. Trong tủy sống, vitamin B12 tham dự vào việc nhân bản các hồng huyết cầu. Việc thiếu vitamin này trong cơ thể sẽ dẫn tới sự thiếu hồng huyết cầu và sự tạo thành các hồng huyết cầu lớn quá khổ. Ngoài ra, sự hoạt động của hệ thống thần kinh cũng bị suy yếu do các dây thần kinh ở não, ở cột sống, lớp myeline bao bọc các đầu dây thần kinh đều dễ bị tổn thương, hệ miễn nhiễm hoạt động kém hiệu quả, sự tổng hợp A.D.N bị chậm trễ hoặc ngưng trệ.
Nói chung, vitamin B12 rất cần thiết cho việc tạo ra những tế bào mới, đặc biệt ở các bộ phận cần có sự tái tạo nhanh như : máu, ruột non, dạ con.
Những người cơ thể thiếu vitamin b12 thường có các triệu chứng như :
Mệt, cảm thấy sức mỗi ngày một yếu, người gầy rộc đi. Hiện tượng này cò thể kéo dài trong nhiều tuần, nhiều tháng.
Người xanh xao do thiếu máu, cơ thể dẫn tới hiện tượng da bị vàng nhẹ, hay thở gấp, tức ngực và có một số triệu chứng của bệnh tim. Việc xác định sự thiếu máu phải qua khâu thử máu để biết rõ số hồng cầu.
Hay bị tê cứng chân tay. Tùy theo việc thiếu máu vừa xảy ra hoặc đã lâu mà các triệu chứng có tính chất nhẹ hay nặng : từ cảm giác kiến bò ở chân. ở bụng, ở cánh tay, tới hiện tượng thoái hóa cảm nhận về xúc giác, thính giác và cả về thị giác.
Hệ thần kinh bị suy yếu, dẫn tới hiện tượng giảm sút trí nhớ, dễ mất bình tĩnh, hay cáu gắt, dễ nãn chí.
Bị rối loạn ở phần da và màng nhầy như : sưng lưỡi, bạc tóc hoặc bị rụng tóc, có cảm giác kiến bò ở da. Ở một số người, có thể dẫn tới sự lãnh cảm (nữ) và bất lực (nam) cùng với hiện tượng rối loạn về tiểu tiện.

Nhu cầu về vitamin B9 của cơ thể người

Vitamin B9 tham dự vào sự chuyển hóa phần lớn các hợp chất có 1 nguyên tử cacbon trong gốc hydro cácbon hay trong nhóm định chức như –CH3 và –CHO, vào việc tổng hợp các axít nucleic, A.D.N và các protein. Bởi vậy, cơ thể thiếu vitamin B9 sẽ dẫn tới nhiều rối loạn quan trọng như thiếu máu (giống hiện tượng thiếu vitamin B12) và mắc các chứng bệnh liên quan tới thần kinh.
Những trường hợp bị bệnh do thiếu vitamin B9 thường xảy ra :
ở một số nước nghèo, thiếu ăn, đặc biệt là với các bà mẹ đang mang thai và trẻ em bị suy dinh dưỡng, chỉ đươc nuôi dưỡng bằng sữa dê, sữa bò (chỉ có lượng vitamin B9 bằng 1/10 sữa mẹ).
Ở 10 – 20% người già, phần lớn bị thiếu máu
Ở người nghiện rượu, cơ thể thường khó hấp thụ vitamin B9
Ở những người phải dùng trong thời gian dài thuốc tránh thai, thuốc giảm đau, thuốc kháng sinh, thuốc chữa ung thư v.v…
Các bệnh do thiếu vitamin B9, thường là bệnh tiêu chảy mãn tính, viêm ruột, viêm lưỡi và thiếu máu.
Sau đây là liều lượng vitamin B9, tính ra ug, được các bác sĩ chỉ định dùng hàng ngày (ug/ngày) :
Trẻ sơ sinh 30
Trẻ từ 1 – 3 tuổi 100
Trẻ từ 4 – 12 tuổi 300
Người lớn (nam, nữ và người già) 400
Phụ nữ đang cho con bú 500
Phụ nữ đang mang thai 800
Vitamin B9 không gây phản ứng khi dùng quá liều lượng.
Vitamin B12 (hay cobalamine)
Trước năm 1920, các thầy thuốc thường phải khoanh tay đứng nhìn các bệnh nhân bị căn bệnh hiểm nghèo mà họ gọi là chứng “thiếu máu ác tính” đưa tới tình trạng tử vong. Sau này, có một bác sĩ người Mỹ nghĩ rằng căn bệnh có thể là do cơ thể của bệnh nhân bị thiếu một loại vitamin nào đó và đã cho bệnh nhân tẩm bổ bằng cách ăn gan để làm tăng số hồng cầu lên tới mức bình thường. Tuy vậy, mãi tới năm 1948, bác sĩ Wipple mới chiết được từ gan ra một chất màu đỏ hồng, làm cho nó kết tinh và sử dụng chất này để chữa trị khỏi bệnh cho những bệnh nhân bị thiếu máu ác tính. Chất này được đặt tên là vitamin B12. Vì trong thành phần có chất cobalt (Co), nên có còn được gọi là cobalamin.

Cơ thể người dễ hấp thụ vitamin B9 có trong đậu hạt, chuối, gan, men bia

Những bệnh nhân không tự ăn được, phải bơm thức ăn vào dạ dày hoặc tiêm thuốc nuôi cơ thể trong thời gian dài và những động vật thí nghiệm chỉ được nuôi bằng lòng trắng trứng (vì lòng trắng trứng có chất kháng vitamin B8)
Lượng vitamin B8 thường được các bác sĩ chỉ định dùng hàng ngày, nếu thấy cần thiết, đươc tính ra microgam như sau (ug/ngày) :
Trẻ sơ sinh 35
Trẻ từ 1 – 3 tuổi 50-90
Từ 4 – 9 tuổi 50-90
Từ 9 – 12 tuổi 50-90
Người lớn, phụ nữ mang thai, nuôi con bằng sữa mẹ 100 -300
Người cao tuổi 100 – 200
Những công trình nghiên cứu cho thấy vitamin B8 có tác dụng làm giảm chất đường có dư trong máu, nên vitamin này còn được phối hợp với các vitamin B khác và các dược phẩm có chứa magiê (Mg) để chữa trị bệnh tiểu đường.
Vitamin B9 (hay axít folic)
Vitamin B9 là một hợp chất được tổng hợp trong thực vật, đặc biệt ở lá (folio) và các sinh vật siêu nhỏ – các vi sinh. Các nhà khoa học đã ý thức được sự có mặt của vitamin này trong các thực phẩm, qua quá trình nuôi các con khỉ thí nghiệm đơn thuần bằng bánh mì trắng và cơm nấu bằng loại gạo đã giã kỷ. Lũ khỉ tuy vẫn phát triển về chiều cao nhưng bị bệnh thiếu máu và có những hồng huyết cầu không bỉnh thường. Cơ thể người không tổng hợp được vitamin này.
Vitamin B9 dễ bị nhiệt phân hủy. Bởi vậy, qua viêc chế biến thức ăn, các thực phẩm có thể bị mất tới 90% vitamin B9. Hiện tượng phân hủy này còn phụ thuộc vào từng loại thực phẩm. Thí dụ : vitamin B9 có trong gan và thịt gà bền hơn vitamin B9 có trong rau. Cơ thể người dễ hấp thụ vitamin B9 có trong đậu hạt, chuối, gan, men bia hơn trong các thực phẩm khác như nước cam hoặc lòng đỏ trứng.
Vitamin B9 có trong sữa nhưng số lượng nhiều ít tùy theo cách chế biến. Sau đây là lượng vitamin B9 tính ra microgam (ug) có trong 1 lít sữa (ug/l) :
Sữa tươi 55
Sữa đã hấp theo phương pháp Pasteur 54
Sữa bột 36
Sữa tươi đã đun sôi 5 phút 31
Sữa hấp đun sôi 5 phút 15
Sữa bột đun sôi 5 phút 10
Nguồn vitamin B9 trong tự nhiên
Vitamin B9 thường có trong thực vật, trong các loại rau nhưng dễ bị oxy hóa và phân hủy bởi nhiệt.
Sau đây là lượng vitamin B9 tinh ra ug trong 100 g thực phẩm và liều lượng bị phân hủy trong quá trình đun nấu thức ăn.
Loại thực phẩm
Có chứa (ug/100g)
Bị mất do đun nấu
Măng tây, rau epinard
Cà rốt, cải hoa (súp lơ)
100 – 250
10 – 40
80%
80%

Nguồn vitamin B8 trong tự nhiên

Người lớn (nam) 2,2
Người lớn (nữ) 2,0
Phụ nữ mang thai hoặc nuôi con bằng sữa mẹ 2,5
Người cao tuổi 2 – 2,2
Dùng đúng liều lượng, vitamin B6 không gây phản ứng phụ
Tuy vậy, nếu dùng quá liều hoặc liều mạnh trong nhiều tháng liền (trên 250mg/ngày), có thể bị viêm dây thần kinh
Vitamin B8 (còn gọi là vitamin H hay biotine)
Vitamin B8 được tìm thấy năm 1931 bởi nhà sinh-hóa học Gyưrgyi, trong quá trình nuôi các con chuột thí nghiệm bằng lòng trắng trứng. Gyưrgyi cho rằng đây là một loại vitamin đặc biệt cần thiết cho da, bởi vậy vitamin này còn được là vitamin H (do từ Haut trong tiếng Đức có nghĩa là da). Mãi tới năm 1942 người ta mới điều chế được vitamin này bằng phương pháp tổng hợp.
Vitamin B8 tan trong nước và các dung dịch kiềm, ít tan trong dung dịch axít và các chất dịch hữu cơ.
Tuy chịu được nhiệt độ cao, nhưng các thực phẩm cũng bị mất từ 10 – 40% vitamin B8 sau khi được đun nấu để làm thức ăn.
Nguồn vitamin B8 trong tự nhiên
Vitamin b8 có trong các tế bào động vật và thực vật, có nhiều ở gan, lòng đỏ trứng, quả cật (bầu dục) của súc vật. Trong cơ thể người, vitamin B8 được ruột non hấp thụ qua quá trình tiêu hóa thức ăn, được máu đưa tới mọi tế bào, được dự trữ ở gan và thải ra ngoài qua đường tiểu tiện.
Sau đây là lượng vitamin B8 được tính bằng microgam (ug) có trong 100g thực phẩm (ug/100g) :
Men bia 90
Nấm, cải hoa (xúp lơ) 20
Thịt gà 10
Đậu hạt 10 – 18
Trứng (cả lòng trắng và lòng đỏ) 12 – 15
Cà rốt, cà chua (tô-mát) 3 – 7
Gạo đã làm sạch 4 – 6
Thịt cừu 6
Thịt lợn (heo) 5
Sữa bò 2 – 5
Sôcola 2 – 3
Phômai (phó – mát) 1,8
Nước cam 0,5 – 1,5
Táo 1
Sữa mẹ 0,8
Cá biển 0,1 – 0,3
Nhu cầu vitamin B8 của cơ thể người
Vitamin B8 có trong mọi loại thực phẩm. Cơ thể người chỉ cần một lượng nhỏ vitamin B8 nên rất ít người bị bệnh vì thiếu vitamin này. Nhu cầu vitamin B8 đối với trẻ em là từ 50 – 90 ug/ngày. Với người lớn từ 100 – 300 ug/ngày.
Do vitamin B8 hấp thụ CO2 trong cơ thể, tham dự vào việc tổng hợp các chất béo, một số các axít amin, chất đường, nên sự thiếu hụt vitamin này cũng gây ra một số rối loạn về thần kinh (ngất, co cơ), về tiêu hóa (nôn ói, chán ăn), về da (lông mày, lông mi thưa) viêm da, đặc biệt ở vùng quanh miệng, mắt, lỗ mũi, hậu môn, vùng mông, cổ, móng tay và quanh móng tay, móng chân.

Hồng huyết cầu

Chất collagen, có tác dụng làm cứng xương
Bởi vậy, người thiếu vitamin B6 sẽ có thể bị các chứng bệnh có liên quan tới sự rối loạn tâm thần, chậm hoặc khó chuyển hóa các chất dinh dưỡng, xương yếu dễ gẫy và các bệnh về tim mạch
Nguồn vitamin B6 trong tự nhiên
Vitamin B6 là một chất bền khó bị oxy hóa, tuy vậy trong quá trình đun, nấu, hấp, các thực phẩm cũng bị mất đi từ 10 – 50% vitamin B6.
Vitamin B6 có nhiều trong men bia, mầm lúa, gan, óc, huyết tương, hồng tuyết cầu và nhiều loại thực phẩm như thịt, cá, bắp cải hoa (súp lơ), đậu xanh, chuối… Có một lượng rất ít được tổng hợp ở ruột.
Sau đây là lượng vitamin B6 tính ra mg có trong 100g một số thực phẩm (mg/100g) :
Men khô 1,5 – 10
Mầm lúa mì 1 – 5
Gan bò non, giăm bông, thịt gà 1 – 2,1
Bột ngô, lúa mì 0,4 – 07
Thịt, cá 0,3 – 0,7
Chuối 0,3
Rau, quả 0,1 – 0,5
Trứng 0,1
Sữa bò 0,05 – 0,03
Sữa mẹ 0,01
Nhu cầu về vitamin B6 của cơ thể người
Có 50% những bệnh nhân bị thiếu vitamin B6 có các triệu chứng như : cứng tay chân, đau đầu, nhức hai bên thái dương, đau rát dạ dày (bao tử) nhất là sau khi ăn các thức ăn có dùng bột ngọt (mì chính hay natri monoglutamat).
Vitamin B6 rất cần cho các đối tượng sau :
Người chơi thể thao
Phụ nữ mang thai hoặc sắp tới kỳ kinh nguyệt, phụ nữ cho con bú, người đang dùng thuốc tránh thai.
Người nghiện rượu bị rối loạn chức năng chuyển hóa
Người cao tuổi, kém ăn, suy dinh dưỡng
Người bị bệnh về huyết cầu
Người bị các loại bệnh có liên quan tới thần kinh như giảm trí nhớ, hay lo sợ, stress, rối loạn thị giác, chuột rút, run tay chân, cảm giác kiến bò ở gan bàn tay, bàn chân, rụng tóc, gẫy nứt móng tay, móng chân, v.v…
Vitamin B6 thường được dùng phối hợp với các vitamin khác và các dược phẩm có chứa magiê (Mg) trong việc chữa trị trẻ em phát triển chậm về trí khôn, về khả năng nói và hiểu. Trong cơ thể người, vitamin B6 được hấp thụ ở đoạn trên của ruột non để đưa vào máu rồi chuyển tới gan cùng các cơ bắp và thải ra ngoài theo nước tiểu.
Sau đây là liều lượng vitamin B6 (mg/ngày) thường được các bác sĩ chỉ định phối hợp với các loại vitamin B khác và Mg :
Trẻ sơ sinh 0,3 – 0,6
Trẻ từ 1 – 3 tuổi 0,8
Từ 4 – 9 tuổi 1,4
Từ 10 – 12 tuổi 1,6
Từ 13 – 19 tuổi 2,0

Nguồn vitamin B5 trong tự nhiên

Vitamin B5 còn được dùng để chữa trị các bệnh về lông-tóc, bệnh viêm phế quản mãn tính, bệnh đường ruột và giúp cho các vết thương mau lành.
Vitamin B5 có trong hầu hết các thực phẩm có nguồn từ động vật và thực vật, đặc biệt có nhiều ở gan, lòng đỏ trứng, thịt, nấm và ngũ cốc. Sau đây là lượng vitamin B5 tính ra mg, có trong 100g một số thực phẩm (mg/100g) :
Gan 4 – 10
Nấm 1,4 – 2
Thịt 0,5 – 1,5
Trứng 6 – 7
Đậu hạt 0,5 – 1
Cá 0,1
Sữa 0,2 – 0,8
Trái cây, rau 0,05 – 0,3
Nhu cầu về vitamin B5 của cơ thể người
Người thiếu vitamin B5 sẽ có những triệu chứng : rụng tóc, bạc tóc, viêm loét da và tá tràng, hoại tử tuyến thượng thận, trì tuệ sự tổng hợp cholesterol, rối loạn thần kinh và hệ tiêu hóa. Tuy nhiên, hiện tượng thiếu vitamin B5 rất hiếm, và chỉ xảy ra ở những bệnh nhân bị suy dinh dưỡng nặng, ở những người bệnh không ăn được, phải bơm thức ăn qua thực quản dài ngày, những người mẹ bị suy dinh dưỡng lại phải cho con bú…
Sau đây là liều lượng vitamin B5 thường được các bác sĩ chỉ định dùng hàng ngày, tính ra mg (mg/ngày) :
Trẻ sơ sinh 3
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 3
Từ 4 – 9 tuổi 4-7
Từ 10 tuổi trở lên 7-10
Người cao tuổi, phụ nữ có mang cho con bú 7-10
Có một số trường hợp có thể được các bác sĩ chỉ định dùng liều cao từ 1 – 3 g mỗi ngày, như :
Người bệnh có vết thương hoặc vết bỏng đang lành
Người bị rối loạn tiêu hóa hoặc tiêu hóa kém sau phẫu thuật
Người bị viêm xoang
Đôi khi, vitamin B5 còn được sử dụng để chống hiện tượng bị chuột rút (vọp bẻ) ở những phụ nữ mang thai. Vitamin B5 không gây phản ứng độc hại gì, dù người bệnh dùng hơi quá liều lượng được chỉ định.
Vitamin B6 (hay pyridoxine)
Vitamin B6 là một trong những vitamin được phát hiện chậm. Năm 1931, nhà sinh-hóa học Gyorgy trong quá trình nghiên cứu về các men, đã tìm ra một chất có tính chất chung giống vitamin nhưng khác với các vitamin B1 và B2 và đặt tên cho nó là vitamin B6. Mãi tới năm 1938 – 1939 người ta mới phân tích và tổng hợp được vitamin này. Thật ra, vitamin B6 không chỉ là một chất, mà có liên quan tới 3 hợp chất : pyridoxine, pyridoxal và pyridoxamin. Trong gan, những hợp chất này được chuyển thành phốtphát pyridoxal, một phụ enzim, có vai trò chuyển hóa các axít amin trong cơ thể, bao gồm việc tổng hợp :
Chất taurine trong mật, có tác dụng an thần

Vitamin B5 (hay axít panthotenique)

Rối loạn tâm thần : mê sảng, ảo giác, lú lẫn, trầm uất thần kinh.
Trường hợp nhẹ, người bệnh chỉ có cảm giác dễ xúc động, sợ hãi, u uất, chán nản, khó ngủ hoặc mất ngủ.
Vitamin PP là tên chung của 2 chất hơi khác nhau : chất nicotinamit và axít nicotinic. Nicotinamit không độc nên không gây phản ứng dù cơ thể có dư, còn axít nicotinic có tính gây giãn mạch. Mỗi người có thể thích ứng với một liều lượng khác nhau về axít này. Quá liều lượng giới hạn, axít nicotinic có thể gây ngứa hoặc những nốt đỏ ở cổ, ở mặt, ở cánh tay.
Bởi vậy, khi sử dụng vitamin PP, người ta phải chú ý tới liều lượng của axít nicotinic. Axít này không thích hợp với người bị loét dạ dày hoặc tá tràng, người bị bệnh tiểu đường hoặc bệnh gan.
Ngoài những trường hợp kể trên, axít nicotinic trong vitamin PP có một số tính chất có lợi cho việc chữa trị bệnh tim mạch như : làm giảm tỷ lệ cholesterol và chất béo trong máu, làm thông mạch, chống lại hiện tượng đông máu và tắc mạch. Các bác sĩ có thể cho bệnh nhân dùng tới 500 mg vitamin PP mỗi ngày mà không ngại có phản ứng phụ. Nhiều cuộc thí nghiệm đã ghi nhận được việc sữ dụng hơn 2g vitamin PP hàng ngày trong một thời gian dài mới có dấu hiệu tổn hại tới gan.
Vitamin B5 (hay axít panthotenique)
Năm 1933, trong quá trình nghiên cứu về men rượu, nhà sinh-hóa học Roger Williams cô lập đượ chất axít panthotenic, có vai trò đặc biệt trong hiện tượng phân chia tế bào.
Mãi tới 7 năm sau, năm 1940, người ta mới điều chế được chất này bằng phương pháp tổng hợp và năm 1953, hai nhà hóa học Lipmann và Krebs đã cùng nhau giải Nobel về y học vì đã tìm được sự liên quan mật thiết của axít này với chất phụ enzyme A, cần thiết cho cuộc sống cũa mọi tế bào.
Chất axít panthotenic được gọi tên là vitamin B5 ở Pháp và ở Anh. Nhưng ở Đức và Mỹ lại được mang tên là vitamin B3. (Bởi vậy, người ta thường gọi vitamin B3 – niacinelà PP để khỏi có sự nhầm lẫn).
Là một chất lỏng mầu vàng nhạt, vitamin b5 tan trong nước và dễ bị nhiệt phân hủy. Có trong hầu hết mọi thực phẩm, nhưng bị mất đi từ 20 – 50% trong quá trình nấu nướng và chế biến thức ăn. Vitamin B5 là thành phần chính của chất phụ enzyme A có vai trò quan trọng trong sự chuyển hóa các chất béo, và chất đường ở các tế bào thành nhiệt năng, trong việc tổng hợp các hoóc-môn, giúp da phát triển và duy trì sự hoạt động của não.

Nguồn vitamin PP trong tự nhiên

Cũng giống như các vitamin khác, nguồn vitamin PP trong tự nhiên là các loại thực phẩm. Sau đây là số lượng mg vitamin PP (B3) có trong 100 g thực phẩm (mg/100g) :
Gan 5 -25
ớt ngọt 15
Gà giò 14
Cá ngừ 13
Gà tây 11
Cá hồi 10
Các loại thịt và cá khác 2 -15
Nấm 3,1 – 5,2
1 ổ bánh mì 2,9 – 3,9
Rau tươi các loại 0,6 – 1,7
Khoai tây 0,5 – 1,5
Những trường hợp cần bổ sung vitamin PP
Vitamin B2 và B6 có vai trò chuyển hóa chất tryptophan trong cơ thể thành vitamin PP. Bởi vậy, người bị thiếu vitamin B2 và B6 thì cũng bị thiếu cả vitamin PP. Nguyên nhân bị thiếu vitamin PP thường do thiếu ăn hoặc cơ thể đang ở lúc đòi hỏi có nhiều chất dinh dưỡng hơn hoặc vì tuổi già, hoặc vì có bệnh ở cơ quan tiêu hóa, như :
Phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú
Người già
Người nghiện rượu
Người bị suy dinh dưỡng hay rối loạn tiêu hóa
Những người đang có bệnh : viêm da, viêm màng nhầy ở miệng, ở ruột (bị tiêu chảy), ở hậu môn dẫn tới xuất huyết ngoại, bị rối loạn tâm thần.
Ở những vùng người dân lấy ngô (bắp) làm lương thực chính, có thể có nhiều trường hợp bệnh do thiếu vitamin PP vì trong ngô không có vitamin B6 để chuyển hóa chất tryptophan thành vitamin PP.
Một số thuốc chữa bệnh có tác dụng hủy hoại vitamin PP như thuốc có isoniazide để trị bệnh lao, thuốc có chất carbidopa dùng để trị bệnh Parkinson. Tất cả các trường hợp trên thường được các bác sĩ yêu cầu bổ sung vitamin PP hàng ngày như sau (mg/ngày) :
Trẻ sơ sinh 6
Trẻ từ 1 – 3 tuổi 9
4 – 9 tuổi 12
10 -12 tuổi 14
Nam từ 13 tuổi trở lên 18
Nữ từ 13 tuổi trở lên 15
Phụ nữ có mang hoặc nuôi con bằng sữa mẹ 20
Người già 15 – 18
Triệu chứng thiếu và thừa vitamin PP
Vì nguyên nhân chính của thiếu vitamin PP là do thiếu chất dinh dưỡng, nên người bệnh đã thiếu vitamin PP thì cũng thiếu cả các vitamin khác trong nhóm B. Các triệu chứng thiếu vitamin PP có thể tóm tắt ở 3 loại bệnh :
Bệnh ngoài da : ở những phần cơ thể không có quần áo che ánh sáng mặt trời, thường xuất hiện các mụn rộp đỏ thẫm, khi vỡ có cảm giác đau rát như bị bỏng, hoặc da bị tróc vẩy, bị khô, sần sùi.
Rối loạn cơ quan tiêu hóa : viêm màng nhầy gây sưng ở lưỡi, ở miệng, viêm ống tiêu hóa (dạ dày, ruột) gây đau bụng và bệnh tiêu chảy, chảy máu ở hậu môn.