Month: March 2016

Vitamin B3 hay PP (hay NIACINE)

Phụ nữ đang uống thuốc ngừa thai
Phụ nữ mang thai hoặc nuôi con bằng sữa mẹ
Người cao tuổi
Người nghiện rượu
Người phải ăn kiêng hoặc kén ăn, tiêu hóa kém
Người bị bệnh tiểu đường
Người bị suy thận
Người bị viêm da, viêm màng nhầy ở mũi, miệng
Liều lượng vitamin B2 dùng cho mỗi ngày (mg/ngày) :
Trẻ sơ sinh 0,6
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 0,8
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 1,0
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 1,4
Nam từ 13 – 19 tuổi 1,8
Nữ từ 13 – 19 tuổi 1,5
Người lớn nam 1,8
Người lớn nữ 1,5
Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú 1,8
Vitamin B2 không gây phản ứng ngộ độc khi lỡ dùng quá liều
Vitamin B3 hay PP (hay NIACINE)
Theo các sách về y học ở châu u thì từ năm 1760, người ta đã nói tới một loại bệnh gây chốc lở ngoài da, thường gặp ở khu vực những người nghèo, trong các nhà tế bần, ở một số nơi mà người dân sống nhờ vào cây ngô (bắp) và lấy ngô làm nguồn lương thực chính. Năm 1907, trong cuộc nội chiến Nam – Bắc Mỹ (Hoa Kỳ), riêng ở miền Nam đã có 25.000 người bị bệnh này. Sau khi nhà sinh – hóa học Funk công bố những phát hiện của mình về vitamin, một số nhà khoa học đã cho rằng rất có thể nguyên nhân gây bệnh này là do cơ thể người bệnh bị thiếu một vitamin nào đó không có trong ngô mà có trong gan, thịt, sữa, vì người bệnh khi được ăn các thực phẩm này đã khỏi bệnh.
Tuy vậy, mãi tới năm 1937, nhà hóa học Elvehjem mới tách riêng được vitamin này ra từ các thực phẩm trên. Người ta gọi chất này là vitamin B3 và sau này thường dùng tên vitamin PP (từ Pellagra Preventing nghĩa là chống bệnh về da).
Trong cơ thể của con người, vitamin PP được tổng hợp từ một axít amin (chất tryptophan), với sự tham gia của các vitamin B2 và B6. Bởi vậy, cho nên trứng và sữa là những thực phẩm giàu vitamin B2, B6 và chất tryptophan đều có tác dụng chống chốc lở và làm người bị bệnh chốc lở mau nhanh khỏi. Vitamin PP chỉ có phần lớn ở các protein động vật cho nên đối với người ăn kiêng, với thức ăn đơn điệu, không có thịt sẽ thiếu chất dinh dưỡng và dễ bị các bệnh ngoài da. So với các vitamin khác, thì vitamin PP bền nhất đối với nhiệt, ôxy và ánh sáng, dễ tan trong nước, rượu và có mặt ở tất cả mô tế bào, nhưng có nhiều nhất chính là ở gan.

Vitamin B2

Sau đây là lượng mg vitamin B1 có trong 100g một số thực phẩm (mg/100g) :
Mầm lúa gạo, lúa mì 2
Thịt lợn chín 1,5
Bột đậu nành 1
Thịt gà 0,6
Gan 0,18 – 0,5
1 ổ bánh mì 0,3
Thóc chưa giã 0,02 – 0,7
Khoai tây 0,1
Ở Pháp, các bác sĩ thường khuyên mọi người dùng thêm vitamin B1 mỗi ngày như sau (mg/ngày) :
Trẻ sơ sinh 0,4
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 0,7
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 0,8
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 1,2
Từ 13 – 19 tuổi 1,3
Người lớn nam 1,5
Người lớn nữ 1,3
Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú 1,8
Những người bị bệnh có liên quan tới hệ thần kinh như viêm dây thần kinh, đau dây thần kinh tọa (thần kinh hông), đau lưng, đau khớp… có thể dùng phối hợp vitamin B1 với B6, B12 và thuốc có magiê (mg).
Vitamin B2
Vitamin B2 còn có tên là Riboflavine, được hai nhà hóa học Warburg và Christian tách riêng ra từ năm 1932, có mầu vàng cam, chịu được nhiệt nhựng lại dễ bị biến chất và phân hủy bởi tia cực tím. Tuy được xếp vào loại vitamin dễ tan trong nước nhưng thật ra thì nó khó tan hơn vitamin B1, rất bền trong môi trường axít và kém bền trong môi trường kiềm. 90% vitamin B2 ở thể tự do trong sữa. Nó không bị hao hụt trong quá trình đun, hấp sữa để tiệt trùng, nhưng sau đó, sữa cần được bảo quản trong chai có mầu hoặc trong hộp giấy để tránh cho vitamin B2 khỏi bị phân hủy bởi ánh sáng.
Tác dụng
Vitamin B2 có vai trò hỗ trợ tác dụng của các vitamin B6 và B3 trong cơ thể. Bởi vậy, nếu cơ thể thiếu vitamin B2 thì cũng coi như thiếu cả B6 và B3.
Vitamin B2 tham gia những phản ứng chuyển hóa các gluxít thành năng lượng, tổng hợp các axít béo, có mặt trong thành phần các axít amin, trong cấu tạo giác mạc và võng mạc của mắt.
Người thiếu vitamin B2 thường dễ bị các triệu chứng sau :
Viêm da mặt (thường ở 2 bên mũi, vành tai, đuôi mắt) và viêm màng nhầy ở môi, miệng và lưỡi.
Bệnh về mắt như chảy nước mắt, dầy giác mạc, mắt lồi.
Phụ nữ mang thai mà cơ thể thiếu vitamin B2, đặc biệt người nghiện rượu, có thể làm thai bị ảnh hưởng nặng, như bị tật xương, suy cơ và đột tử.
Vitamin B2 trong tự nhiên
Liều lượng cần bổ sung cho cơ thể
Lượng mg vitamin B2 có trong 100g một số thực phẩm như sau (mg/100g) :
Gan 1,5 – 13
Trứng 0,34 – 0,6
Nấm 0,26 – 0,44
Sữa chua (yaourt) 0,13 – 0,27
Thịt 0,05 – 0,47
Bánh mì 0,06 – 0,16
Rau xanh đã nấu chin 0,01 – 0,14

Đặc tín của vitamin B1

Do những con gà được nuôi trong bệnh viện cũng có những triệu chứng bệnh như vậy, nên Eijkman cho rằng nguyên nhân bệnh là do loại gạo người ta thường dùng làm lương thực chính ở vùng này. Ông thử không nuôi gà bằng gạo nữa mà cho chúng ăn thóc. Điều người thầy thuốc dự đoán đã được chứng minh : những con gà được ăn thóc đã khỏi bệnh. Như vậy có nghĩa là có một chất nào đó đã bị mất đi khi người ta giã thóc để lấy gạo. Chất này rất cần thiếu cho cơ thể, thiếu chất đó, người ta sẽ bị bệnh phù thũng.
Tới năm 1910, Casimir Funk mới tách được chất này ra khỏi cám và vể sau còn tìm thấy nó cả trong men rượu bia.
Năm 1931, hai nhà hóa học Williams và Windaus tìm ra công thức của vitamin B1 và mãi tới năm 1936 các nhà khoa hôc mới điều chế được vitamin này bằng phương pháp tổng hợp.
Đặc tín của vitamin B1
Vitamin B1 có mùi thơm cũa men rượu và cám gạo, dễ tan trong nước, ít tan trong rượu. Cơ thể người có khoảng 25 mg vitamin B1, tan trong các cơ, mô, phần lớn ở gan, thận, não và nhất là ở tim. Do tính dễ tan trong nước nên nếu có dư chất này thì cơ thể sẽ loại ngay ra ngoài qua đường tiểu tiện. Vitamin B1 rất dễ bị hủy hoại do : nhiệt, oxy, độ axít của môi trường, các ion.
Lượng vitamin B1 chứa trong các thực phẩm dễ bị mất đi trong quá trình rửa vì tính dễ tan của vitamin này.
Cơ thể sẽ hấp thụ vitamin B1 kém ở người vừa uống rượu, uống nhiều cà phê, đang bị nôn ói, bị tiêu chảy, viêm đai tràng, bị ung thư, đau gan, độ axít trong dạ dày (bao tử) thấp.
Tác dụng và nhu cầu của cơ thể
Vitamin B1 rất cần cho sự hoạt động của hệ thần kinh và sự trao đổi chất. Những người cơ thể đang thiếu vitamin B1, sẽ có tác biểu hiện như sức lực suy giảm, cử chỉ vụng về, trí nhớ suy yếu, hay quên. Trường hợp này thường gặp ở :
Người nghiện rượu
Người cao tuổi có xu huống ăn ít đủ, thiên về thực phẩm ngọt, hay bị rối loạn tiêu hóa.
Phụ nữ mang thai hoặc nuôi con bằng sữa mẹ
Trẻ sơ sinh và trẻ đang ở tuổi ăn bột
Những người có nhu cầu tăng nhan sự trao đổi chất vì chơi thể thao, bị stress…
Người ăn kiêng, ăn chay, ăn nhiều đồ hộp hoặc thức ăn làm sẵn, ăn uống thất thường.
Người bị bệnh tiểu đường, bị phù thũng, bị bệnh về tiêu hóa, về gan, về thần kinh
Vitamin B1 có ít trong thực phẩm, lại còn rất dễ bị hao hụt.

Loại vitamin dễ tan trong nước

Các vitamin dễ tan trong nước gồm các vitamin nhóm B : B1, B2, B5, B6, B8, B9, B12, PP (hay B3) và vitamin C.
Vì dễ tan trong nước, nên các thực phẩm dễ bị mất các vitamin này trong quá trình rửa, tẩy mầu và đun nấu.
Trừ vitamin B6, tất cả các viatmin dễ tan trong nước đều không gây phản ứng ngộ độc do dùng nhiều hoặc dùng quá liều, vì dễ được thải ra theo đường tiêu – tiểu.
Các vitamin loại này đều có vai trò thúc đẩy những phản ứng sinh hoá trong cơ thể, giúp cho mọi bộ phận cơ thể hoạt động tốt.
Cơ thể thiếu các vitamin này có thể bị mắc những bệnh về não và hệ thần kinh, làm giảm khả năng chống bệnh của hệ miễn nhiễm.
Các vitamin nhóm B
Năm 1910, nhà sinh-hoá học người Mỹ gốc Ba Lan Casimir Funk đã tách được một chất đặc biệt có trong cám gạo mà nhiều người ăn gạo làm quá sạch, bị thiếu chất này nên mắc bệnh phù thũng, còn gọi là bệnh Bêri – bêri. Funk đặt tên cho chất này là vitamin B.
Năm 1926, các nhà hoá học Scidelle (Mỹ) và Lucie Randoin (Pháp) tách được vitamin B thành 2 chất có tính chất khác nhau : chất được đặt tên là vitamin B1 dễ bị nhiệt huỷ hoại, còn chất vitamin B2, bền hơn ở môi trường nóng. Cho tới nay, người ta đã tách được nhiều chất có đặc tính riêng từ vitamin B và đặt tên là vitamin B3, B5, B6, B8, B9, B12, B13, B14.
Các vitamin B4, B7, B10, B11 do không có tác dụng nổi bật lắm, nên về sau này ít được nhắc tới, như B4 có khả năng kích thích sự tạo thành các bạch huyết cầu, B7 hạn chế sự tạo mỡ trong cơ thể, B10 hỗ trợ da chống sự tác hại của ánh sáng mặt trời, B11 kích thích dạ dày và tuỵ làm chúng ta muốn ăn và ăn ngon miệng.
Tât cả các vitamin nhóm B đều cần thiết cho sự hoạt động của các bộ phận trong cơ thể, các cơ, mô, dây thần kinh, chất nhầy, màng nhầy … Cơ thể người thiếu vitamin sẽ bị mệt mỏi, thần kinh dễ bị kích động (cáu gắt), hay quên, mất ngủ, stress…. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu về từng vitamin trong nhóm B.
Vitamin B1
Vitamin B1 còn được gọi là Thiamin, rất cần thiết cho hệ thần kinh.
Năm 1887, Christian Eijkman – một thầy thuốc người Hà Lan, đã nhận thấy những người dân trên một hòn đảo thuộc Indonesia bị mắc bệnh Bêri – bêri, theo thổ ngữ nghĩa là suy nhược nặng. Những người bệnh thường bị mệt đứt hơi, người bị phù, rối loạn tuần hoàn, suy tim, viêm dây thần kinh, dẫn tới tê liệt và tử vong.

Quả đóng hộp thường bị mất một số lớn vitamin

Để thực phẩm chóng chín, có thể cho vào nước đã đun sôi một ít bicácbonát natri hoặc ít giọt chanh hay dấm.
Khi vớt rau ra, nên đậy lại cho vitamin đỡ bay hơi.
Về cá
Ăn cá tốt hơn ăn thịt động vật sống trên cạn và tránh được các bệnh về tim mạch, ung thư vú, béo phì. Thịt cá hấp giữ được nhiều vitamin và các chất bổ dưỡng hơn thịt cá nấu hoặc luộc.
Về thịt
Thịt không có mỡ tốt hơn thịt có mỡ vì tránh được các bệnh có liên quan tới tim mạch và ung thư ruột.
Nên đun nấu vừa đủ, tránh đun lâu vì càng lâu thịt càng mất vitamin
Nên hạn chế ăn thịt nướng và không ăn những chỗ thịt đã bị cháy đen vì nhiều nhà khoa học cho rằng khi bị nướng cháy đen, các tế bào thịt bị biến dạng có liên quan đến sự phát sinh ra bệnh ung thư. Hơn nữa, khi nướng thịt trên lò, mỡ chảy xuống bị cháy tạo ra chất độc benzopyrene bốc lên theo khói và ngấm vào thịt. Bởi vậy, khi nướng thịt nên dùng lò có nguồn nhiệt ở hai bên hoặc ở trên. Thịt chín nên ăn ngay để khỏi bị bốc hơi, mất vitamin.
Về các thực phẩm đóng hộp
Mặc dù các nhà sản xuất đã chú ý tới việc giữ gìn để vitamin ít bị hao hụt trong quá trình chế biến và đóng hộp, nhưng các thực phẩm đóng hộp bao giờ cũng chứa ít vitamin hơn các thực phẩm tươi sống.
Thí dụ : đậu Hà Lan (đậu hạt) đóng hộp đã bị mất 30% vitamin C, 45% vitamin B1 vì tan vào nước. Bởi vậy, khi chế biến thức ăn, nên dùng cả phần nước. Trong quá trình tẩy mầu (làm trắng) và ép, các rau, quả có thể bị mất 40% các vitamin B2, PP, và B9; 60% vitamin B1; 95% vitamin C. Trong quá trình sấy khô, rau quả thường bị mất từ 10 – 40% vitamin B1 và C.
Quả đóng hộp thường bị mất một số lớn vitamin từ khấu đun sôi trong nước đường.
Các cách khử trùng theo phương pháp Pasteur, bằng lò viba, bằng cách hấp chân không, bằng tia phóng xạ v.v… đều làm thực phẩm bị mất vitamin và việc bị mất nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường thực hiện việc khử trùng.
Nói chung, các thực phẩm đóng hộp bao giờ cũng chỉ còn một phần nhỏ vitamin so với khi còn tươi sống. Ngoài ra, người sử dụng cần phải chú ý tới thời hạn sử dụng được ghi ở vỏ hộp : ngày hết hạn càng gần thì chất lượng của thực phẩm càng kém.
Những loại bánh hoặc thức ăn sẵn (fast-foods), tuy thuận tiện để ăn ngay, nhưng thường chỉ giầu chất gluxit mà nghèo về lượng vitamin.

Cách giữ gìn vitamin trong thực phẩm

Điều mà không ai có thể thực hiện được lâu dài. Ngày nay, con người phải lao động lao động chân tay ít hơn người ngày xưa, và cũng tiêu thụ ít thực phẩm hơn. Việc ăn uống không còn chủ yếu là rau quả mà nghiêng về các thực phẩm ngon miệng, được nấu chín. Đó cũng là nguyên nhân khiến cho cơ thể không được cung cấp đầy đủ các loại vitamin, chất khoáng và các nguyên tố vi lượng.
Một cuộc điều tra ở Pháp cho biết 60% dân Pháp bị thiếu vitamin B1 và magiê (Mg), 80% bị thiếu viatmin B6 và kẽm, 100% thiếu vitamin E.
Bởi vậy, ngoài nguồn vitamin lấy từ thực phẩm, có khi chúng ta cần phải được cung cấp thêm một phần nữa từ các dược phẩm có chứa vitamin.
Cách giữ gìn vitamin trong thực phẩm
Do vitamin dễ bị huỷ hoại bởi ánh sáng, không khí và nhiệt độ nên nếu chúng ta không biết cách bảo quản thì nhiều thực phẩm sẽ bị mất hết vitamin khi đã thành món ăn. Bởi vậy, cần có một số kinh nghiệm về việc giữ gìn vitamin có trong thực phẩm như sau:
Về rau, quả
Khi thu lượm : các quả (trái cây) đang độ chín chứa nhiều vitamin nhất, trừ cà chua (tômát). Cà chua xanh chứa nhiều vitamin C hơn cà chua đã chín đỏ.
Khi mua : rau quả mua ở vườn chứa nhiều vitamin hơn ở chợ vì 48 giờ sau khi hái, rau đã bị mất tới một nửa số vitamin C. Rau tươi ở chợ chứa nhiều vitamin hơn rau đã được bảo quản nhiều ngày trong kho lạnh.
Ở nhà : rau quả mua về nhà nên để ở chỗ mát tránh ánh nắng và nên dùng ngay vì lượng vitamin sẽ tiếp tục bị huỷ hoại trong thời gian rau quả được giữ ở tủ lạnh.
Khi rửa * : vitamin thường tập trung ở lớp ngoài của rau, quả, hạt, củ. Bởi vậy nên rửa nhẹ tay. Nếu cần gọt vỏ :
Nên gọt càng mỏng càng tốt. Nên rửa khoai tây, và bóc vỏ rau khi luộc.
Không nên ngâm rau, đậu vào nước để rửa, vì đa số vitamin dễ tan trong nước. Nên rửa nhanh dưới vòi nước.
Không nên vắt nước quả rồi để lâu trước khi dùng vid vitamin dễ bị huỷ hoại bởi không khí.
Khi nấu : thời gian nấu rau, củ, càng ngắn càng tốt. Nên để nước sôi rồi mới bỏ rau vào.
Nên luộc cả nhánh rau, tránh cắt thành đoạn nhỏ.
Ở đây đề cập đến việc giữ gìn vitamin đối với các loại rau, quả “sạch”
Nên dùng ít nước để luộc thực phẩm, nếu sau đó không dùng tới phần nước.
Nên bỏ một ít muối vào nước luộc rau để hạn chế sự hòa tan của vitamin và các chất muối khoáng.

Không sinh ra năng lượng

Về sau, các nhà khoa học tiếp tục tìm ra nhiều vitamin khác nữa và dùng các chữ cái để đặt tên cho chúng như vitamin A, vitamin B, vitamin C, D, E… và xếp chúng thành 2 loại :
Loại dễ tan trong các chất béo như các vitamin A, D, E, K.
Loại dễ tan trong nước, thường có trong các rau, quả, thịt như nhóm vitamin B gồm B1, B2, B3,… B12; và vitamin C
Các vitamin có 6 tính chất chung như sau :
Không sinh ra năng lượng
Cơ thể rất cần vitamin, nhưng chỉ với một lượng rất nhỏ từ vài chục miligam (mg) như với vitamin C, tới một vài microgam (ug) như với vitamin B12.
Cơ thể không tự điều chế được các vitamin nên phải lấy vitamin từ các thực phẩm hoặc dược phẩm.
Các vitamin không thể thay thế được cho nhau. Người bị thiếu vitamin A không thể uống vitamin B để trị bệnh cho mình.
Các vitamin đều cần thiết cho sự hoạt động và phát triển của cơ thể do chúng có vai trò xúc tác, thúc đẩy sự tiêu hoá thức ăn, sự trao đổi chất. Ngoài ra, chúng còn giúp các điểm bị tổn thương của cơ thể chóng bình phục.
Cơ thể thiếu vitamin sẽ dễ mắc một số tật bệnh hiểm nghèo, có thể dẫn tới tử vong.
Hiện nay, các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu vai trò của các vitamin đối với cơ thể con người, vì các vitamin còn có tác dụng rất rộng rãi, trong việc điều trị và phòng chống một số bệnh hiểm nghèo như : ung thư, tim mạch, tiểu đường, béo phì v.v… Nhờ tính chất chống ôxy hoá, một số vitamin còn có khả năng giúp các tế bào chống lại sự lão hoá.
Sau đây là 6 căn bệnh đầu tiên được các nhà khoa học xác định nguyên nhân do cơ thể thiếu vitamin:
Bệnh
Triệu chứng
Nguyên nhân
Phù thũng
Suy nhược toàn thân
Thiếu máu ác tính
Chốc lở ngoài da
Khô mắt
Còi xương
Phù và liệt
Xuất huyết
Sức khỏe suy yếu trầm trọng
Rối loạn da và tâm thần
Mờ hoặc mù mắt
Xương dị dạng
Thiếu vitamin B1
Thiếu vit. C
Thiếu vit. B12
Thiếu vit. PP
Thiếu vit. A
Thiếu vit. D
Tại sao cơ thể chúng ta cần thêm vitamin?
Có nhiều loại vitamin trong các loại thực phẩm có nguồn từ thực vật và động vậy nên muốn nhận được đủ loại vitamin, chúng ta cần phải dùng nhiều loại thực phẩm và luôn luôn thay đổi các món ăn. Đa số vitamin dễ bị huỷ hoại bởi ánh sáng, không khí và nhiệt độ. Các rau quả khi bị nấu chín sẽ mất tới 95% vitamin C. Bởi vậy, nếu muốn cung cấp đầy đủ vitamin cho cơ thể chỉ bằng ăn uống thì hàng ngày, chúng ta phải ăn một lượng thức ăn rất lớn.

Vitamin và những chất mang nhầm tên vitamin

Khi thí sinh ra trình diễn ở ngoài sân khấu, người dẫn chương trình đọc “vòng 1” chính là vòng ngực 2 vừa đề cập.
Vòng eo (vòng II) : được đo qua chỗ eo nhỏ nhất. Thí sinh càng có vòng eo nhỏ càng đẹp. Con số lý tưởng của vòng eo phải nhỏ hơn vòng mông 25 – 30cm.
Vòng mông (vòng III) : được đo qua chỗ lớn nhất của mông. Vòng mông được dánh giá đẹp khi nở nang cân đối, lớn hơn vòng eo 25 – 30cm và lớn hơn vòng I là 2cm.
Các vòng khác :
Các còng ở chi có thể chia làm 2 loại : loại vòng biểu hiện sự tăng cơ đo ở những chỗ có nhiều thân cơ tập trung như đùi, bắp chân, cánh tay, cẳng tay chỗ to nhất; loại vòng biểu hiện sự phát triển của xương, nghĩa là những chỗ đầu xương to ra và sát vào da như cổ tay, cổ chân…
Ngoài ra người ta còn đo các vòng cổ, vòng vai… nhưng chỉ có giá trị tham khảo thêm. Trong các loại vòng đo này, vòng đùi được quan tâm nhiều nhất. Vòng đùi phía sau đo qua nếp lằn mông, phía trước đo sát đầu trong nếp lằn bẹn để đánh giá đùi nhỏ, to hoặc đẹp, xấu. Theo tiêu chuẩn ngoại hình của thí sinh hoa hậu, vòng đùi từ 46 – 52cm mới đạt. Một cặp chân đẹp, ngoài yêu cầu về số đo vòng, về độ dài, còn xét độ thẳng, khi đứng khít hai bàn chân vào nhau với 5 điểm chạm giữa hai chân tại các vị trí : giữa hai đùi, hai đầu gối, hai bắp chân, hai mắt cá trong, hai đầu trước đốt bàn chân 1.
Vitamin, muối khoáng và các nguyên tố vi lượng đối với sức khỏe hàng ngày
Phần thứ nhất
Vitamin và những chất mang nhầm tên vitamin
Vitamin là gì?
Lịch sử, tên, phân loại, tính chất và công dụng của các vitamin
Từ thế kỷ XVIII, trong quá trình đi tìm các phương pháp điều trị một số bệnh hiểm nghèo có thể gây tử vong, như bệnh suy nhược toàn thân kèm theo các hiện tượng xuất huyết (scorbut), bệnh phù thũng (beri – beri), bệnh chốc lở ngoài da dẫn tới sự suy nhược thần kinh v.v…, người ta đã biết cho người bệnh uống dầu gan cá thu và ăn nhiều trái cây. Nhưng những việc làm này chỉ là do kinh nghiệm.
Mãi tới năm 1910, nhà sinh hoá học Casimir Funk mới phát hiện được một chất đặc biệt trong cám của lúa gạo có khả năng chữa được bệnh phù thũng. Ông cũng nhận thấy những người thiếu chất này vì chỉ ăn gạo đã giã sạch cám, dễ bị bệnh phù thũng. Đó là chất thiamin, được Funk gọi là vitamin (sinh tố) có nghĩa là chất amin cần thiết cho sự sống (vita).

Một người được dinh dưỡng tốt sẽ tăng cân

Chiều cao trung bình của thiếu nữ Việt Nam từ 1,46m đến 1,52m. Để hướng tới cái đẹp, các cuộc thi đều đưa ra tiêu chuẩn phải cao từ 1,56m đến 1,60m (đủ quy định) nhưng khi vào thi chỉ có 1,59m (bị loại) vì ở nhà thí sinh đo bằng thước không chuẩn, tư thế đứng không đúng, người đo không có chuyên môn…. Do đó, thí sinh vào vừa ở mấp mé độ cao quy định của cuộc thi nên kiểm tra lại kỹ chiều cao tại những cơ sở y tế để tránh lãng phí về thời gian và tiền bạc.
Chiều cao ngồi : đó là chiều cao đo được khi thí sinh ngồi ngay ngắn trên một mặt ghế, bàn chân buông thông không chạm đất. Chiều cao ngồi bao gồm chiều dài của thân, cổ và đầu. Thông qua chiều cao ngồi người ta gián tiếp tính được chiều dài chân (hai người cao bằng nhau, người nào chân dài hơn chắc chắn sẽ đẹp hơn) : chiều dài chân = chiều cao đứng – chiều cao ngồi. Để dễ so sánh và đánh giá chiều dài chân, người ta dùng chỉ số Skélie
Skélie = (chiều dài cho dưới * 100)/ chiều cao ngồi
Các nhà nhân chủng xếp loại người dựa vào các chỉ số Skélie như sau : chân ngắn < 84,9; chân vừa từ 85 – 89,9; chân dài trên 90
Theo tiêu chuẩn ngoại hình của thí sinh hoa hậu Việt Nam, chỉ số skélie đòi hỏi phải lớn hơn 90. Ví dụ : Hà Kiều Anh – hoa hậu báo tiền phong năm 1992 – có chiều cao đứng 169cm, chiều cao ngồi 88cm, đạt chỉ số Skélie > 92.
Cân nặng : thể trọng của một người nói lên mức độ và tỷ lệ giữa sự hấp thụ và tiêu hao. Một người được dinh dưỡng tốt sẽ tăng cân, do đó cân nặng nói lên phần nào trình độ thể lực. Để so sánh cân nặng của các thí sinh, người ta dùng chỉ số Quetelet.
Quetelet = cân nặng (gr) / chiều cao đứng (cm)
Ví dụ : Nguyễn Thức Ái Quỳ – hoa khôi “người đẹp thể dục TP. Hồ Chí Minh” năm 1993 – cân nặng 48,5kg, chiều cao đứng 162cm, đạt chỉ số Quetelet :
48.500 gr / 162 cm = 299,4 gr/cm
Chỉ số này có nghĩa là tính sức nặng của một cm chiều cao; người càng nặng thì chỉ số này càng lớn. Theo tiêu chuẩn ngoại hình của thí sinh hoa hậu, chỉ số này vào khoảng 290 – 320 là lý tưởng. Dưới 290 là gầy và trên 320 là mập
Vòng ngực (vòng 1)
Đo 3 vòng : vòng ngực 1 (đo sát nách), vòng ngực 2 (đo qua núm vú), vòng ngực 3 (đo qua mùi ức). Trong việc tuyển chọn hoa hậu, người ta đăc biệt quan tâm tới vẻ đẹp của bộ ngực (nhũ hoa) ở vòng ngực.

Tiểu ban đo đạc thường sử dụng thước đo chiều cao

Khi muốn đứng dậy nên để hai chân cho thẳng rồi từ tốn đứng lên, đừng vịn tay vào thành ghế như mệt mỏi. Khi lên xe hơi không nên cúi đầu chui mình vào trước; trái lại phải nghiêng mình, nghĩa là mặt quay về phía trước x echo nửa thân mình trái vào trước, ngồi xuống ghế và cho hai chân vào. Khi xuống xe cũng nên cho chân xuống trước.
Tóm lại duyên dáng là một sự kết hợp khôn ngoan giữa điệu bộ, vẻ mặt, lời nói, tiếng cười nhưng luôn phải giữ vẻ cởi mở, thành thật và tự nhiên. Phải học hỏi ở người xung quanh, ở sách báo để hiểu rộng biết nhiều điều dễ dàng tiếp chuyện với mọi người có những sở thích khác nhau. Phải tỏ ra chú trọng tới người đối thoại và biết lắng nghe nhiều hơn nói. Đôi khi nguyên cái vẻ chú ý nghe người khác của bạn, người ta sẽ cảm thấy bạn có duyên mặc dầu bạn chẳng nói gì. Tuy nhiên phải vui vẻ mả trả lời các câu hỏi của người khác vì thật không có gì vô duyên cho bằng người ta hỏi mình cũng chĩ nhe răng ra cười hì đáp lại.
Với lòng nhẫn nại, tính tự tin, tâm hồn cởi mở và phương pháp sẵn có trong tay, bạn hãy bắt tay vào việc giữ gìn “Tuổi trẻ và sắc đẹp”; một chân trời mới đầy ánh sáng hạnh phúc đang mở rộng chờ đón bạn.
Bạn có muốn trở thành hoa khôi, hoa hậu?
Trong tiêu chuẩn chọn hoa khôi, hoa hậu, việc đánh giá cao nhất là vẻ đẹp hình thể – sau đó mới là trang phục và ứng xử. Đánh giá hình thể là bước đầu tiên của cuộc thi, bao gồm :
Các nhận xét về các điểm của mặt (mắt – mũi – miệng – tóc – khuôn mặt – làn da…) thường khó xác định vì không có một chuẩn mực chung nào mà chỉ được đánh đánh giá theo cảm nhận của các giám khảo.
Các thông số về vẻ đẹp trên thân hình là cơ sở khách quan nhất để đánh giá. Tiểu ban đo đạc thường sử dụng thước đo chiều cao (thước đo nhân học Martin – thước dây và cân). Hiện bộ môn giải phẫu học đã sử dụng buồng đo nhân trắc theo thiết kế của cử nhân Trương Thị Sao Mai nên việc đo đạc đơn giản, nhẹ nhàng, chính xác, thoải mái cho thí sinh và nhanh hơn trước nhiều, các thông số được đo đạc cho thí sinh thường là :
Chiều cao đứng : đo từ mặt đất lên đỉnh đầu. Thí sinh phải ở tư thế đứng nghiêm để cho 4 điểm phía sau chạm vào thước đó (chẩm, lưng, mông, gót). Đầu phải thẳng, sao cho đuôi mắt và ống tai ngoài nằm trên một đường ngang.