Month: April 2016

Vai trò của magiê trong cơ thể

Có mặt trong tế bào dưới dạng ion mang điện dương (Mg++), Mg tham gia vào hoạt động chuyển hóa chất, ổn định tỷ lệ giữa các chất axit và bazo trong cơ thể, giúp canxi và phốtpho cố định ở xương, giúp cơ thể phát triển thuận lợi, đặc biệt trong 5 lĩnh vực sau :
Hoạt động chuyển hóa chất : Mg là một chất kích thích quan trọng cho khoảng 300 enzym hoạt động, chủ yếu là vận chuyển chất phốtphát để tạo ra năng lượng cung cấp cho cơ thể. Nhờ vậy mà cơ thể thực hiện được các chức năng như : sinh sản, phát triển, trao đổi chất, thích ứng với stress, điều hòa thân nhiệt, loại bỏ các độc tố, sửa chữa tế bào, hoạt động của não.
Ngoài ra, Mg còn kiểm soát sự thâm nhập của canxi qua màng tế bào, vì nếu để canxi lọt vào bên trong tế bào nhiều quá mức cần thiết sẽ gây ra hiện tượng co cơ, người run, nhức đầu.
Các bộ phận cấu tạo bởi các mô mềm ở bên trong cơ thể như ruột, mật, dạ con, các mạch máu… nếu bị thiếu Mg có thể có những phản ứng co rút gây đau đột ngột, kèm theo nhức đầu, huyết áp tăng cao, kể cả hiện tượng nhồi máu cơ tim.
Đối với hoạt động của não : Não là bộ phận tiêu thụ năng lượng nhiều nhất. Mỗi tế bào não đều cần một năng lượng gấp 10 lần so với nhu cầu của các tế bào khác. Nếu không được cung cấp đủ năng lượng, các tế bào não sẽ bị tê liệt tới mức bị hủy hoại.
ổn định nồng độ Na+ và K+ ở 2 bên màng tế bào : nếu cơ thể thiếu Mg, hệ thống bơm đẩy Na+ ra ngoài tế bào khi nhiều quá mức và hút K+ vào thay thế sẽ hoạt động kém đi, dẫn tới hậu quả là các tế bào bị căng phồng.
tính chống viêm và chống dị ứng : Magiê và vitamin C là những chất chống histamine và hỗ trợ các loại thuốc chống dị ứng.
chống lão hóa : một trong những tính chất mới của Mg được các nhà khoa học phát hiện là khả năng hạn chế được tác hại gây ra bởi các gốc tự do và các độc tố làm cơ thể bị lão hóa.
Nguồn magiê trong tự nhiên
Nước khoáng ở một số nơi trong thiên nhiên có chứa Mg, rất tốt cho sức khỏe. Mỗi lít nước khoáng có thể chứa bào khoảng 80 – 110 mg Mg (tùy từng nơi khai thác và chỉ một số nơi có Mg).
Một số thực phẩm chứa nhiều Mg là đậu tương, các loại rau quả có dầu, cá, quả phơi khô, các loại rau xanh (Mg có trong chất diệp lục).

Những người có huyết áp cao

Việc dùng các loại thuốc có lợi tiểu là vô ích và có khi còn có hại cho sức khỏe.
Không nên chỉ định một cách máy móc chế độ ăn nhạt cho người già, kể cả trường hợp những người có chỉ số huyết áp cao. Nên coi việc có huyết áp hơi cao ở người già là một điều bình thường. Việc ăn nhạt đối với người già sẽ có ảnh hưởng không tốt tới hệ thần kinh, gây ra nhạt miệng, chán ăn dẫn tới sút cân và bị suy dinh dưỡng.
Đối với những người khỏe mạnh, không bệnh tât, chưa tới tuổi già, phụ nữ không mang thai, không có vấn đề gì về huyết áp (cao hoặc thấp) thì tốt nhất là nên giảm ăn mặn.
Trên bàn ăn không cần để sẵn đĩa muối, nên hạn chế lượng muối khi nấu ăn, hạn chế ăn những loại thịt muối, bánh mặn, bơ mặn. Thay thế muối ăn, chúng ta có thể uống nước khoáng có chứa muối canxi và magiê.
Nên ăn cá và hải sản có chứa lượng Na vừa đủ trong thịt và những rau quả giàu chất kali (K) hơn natri (Na).
Những người có huyết áp cao, bị suy tim, bị bệnh về gan như xơ gan nên dùng muối có kali (K) để thay thế muối ăn có natri.
Magiê (Mg)
Magiê còn được gọi là manhêdium, có ký hiệu Mg, là một nguyên tố có tính kim loại. Căn cứ vào sự hữu ích của nó, mg được xếp vào ngôi sao thứ ba trong làng kim loại, sau sắt và canxi.
Muối sunfát magiê đã được sử dụng từ thế kỷ XV để làm thuốc nhuận tràng. Trong vòng 50 năm trở lại đây, các bác sĩ P.Delbet và D.Bertrand đã làm Mg nổi tiếng vì ứng dụng của nó trong nông nghiệp, trong công nghiệp thực phẩm và việc phòng chống bệnh ung thư. Ngoài ra, người ta còn sử dụng các chất có magiê để chống stress, phòng chống một số bệnh về tim mạch, chứng nhồi máu cơ tim và chống sự lão hóa.
Trong cơ thể một người nặng 70 kg có 25 – 30 g Mg được phân phối như sau : gần 70% ở xương, 29% ở các cơ bắp và các mô khác, 1% trong máu. Những điểm có Mg tập trung nhiều nhất là não, bên trong và bên ngoài tế bào, cơ tim, các tế bào gan, ruột, các tuyến nội tiết và hệ thống các mạch máu. Lượng Mg trong máu được phân phối như sau : 22 mg trong 1 lít huyết tương và 56 mg trong 1 lít hồng huyết cầu.
Sự phân phối Mg trong cơ thể (mg/100g)
Xương 1010
Cơ bắp 215
Thận 207
Gan 175
Tim 175
Lách 142
Tinh hoàn 95
Phổi 74

Người có huyết áp thấp

Cá hồi đóng hộp 760
Bánh mì trắng 500
Bánh bít-cốt 250 – 400
Bơ margarin 250 – 300
Bơ thường 200
Các loại gia vị cùng nước chấm đều có muối như : mù tạt, nước tương, magi, nước mắm…
Các loại nước khoáng, nước giải khát có gaz đều có chứa Na từ 50 – 1700 mg/l
Nước máy nếu sử dụng natri silico aluminát trong quá trình lọc nước cũng chứa Na khoảng 200 mg/l.
Trong 100g muối biển dùng để ăn, có khoảng 39g Na, ngoài ra còn có magiê, sắt và các nguyên tố vi lượng.
Cần sử dụng muối ăn như thế nào?
Trên thực tế, chúng ta thưởng ăn muối (NaCl) để cung cấp Na cho cơ thể. Đối với cơ thể, việc thiếu hoặc thừa Na đều sinh bệnh, nhưng việc thiếu ít khi xảy ra. Nhiều nhà nghiên cứu về chế độ ăn uống cho rằng hiện nay, phần lớn chúng ta ăn mặn quá mức cần thiết do thói quen cá nhân hoặc thói quen của cả cộng đồng. Bởi vậy, chúng ta cần biết khi nào và với ai cần tăng hay giảm lượng muối ăn hàng ngày?
Trường hợp cần ăn mặn :
Những người cần ăn mặn hơn người khác hoặc cần bổ sung thêm các chất muối khoáng gồm :
Người phải làm việc ngoài nắng nóng, nhất là về mùa hè.
Người làm việc ở nơi ở nhiệt độ cao như trong mỏ, gần lò nung.
Vận động viên các môn thi đấu đặc biệt như : chạy đường xa, đua xe đạp đường trường, v.v…
Người bị bệnh tiêu chảy, mất nhiều nước chứa các chất điện giải trong người.
Trường hợp cần ăn bớt mặn hoặc ăn nhạt :
Những người cần ăn giảm mặn gồm :
Người có huyết áp cao
Người bị bệnh phù, bị suy tim
Người bị một số bệnh về thận, về gan
Chú ý :
Trước kia, người ta thường khuyên các phụ nữ có mang từ tháng thứ 7 trở đi nên ăn nhạt để đề phòng hiện tượng phù chân (xuống máu chân). Nhưng hiện nay, nhiều nhà chuyên môn lại cho rằng trong khi mang thai, nhu cầu về Na của cơ thể cao hơn bình thường để đáp ứng cho việc gia tăng lượng máu. Việc ăn nhạt sẽ làm cho cơ thể bị thiếu Na, bởi vậy không phải bất cứ phụ nữ nào cũng phải ăn nhạt từ tháng thứ 7 tới khi sinh con. Cần có sự chỉ định của bác sĩ theo dõi sức khỏe của các bà mẹ lẫn thai nhi. Cơ thể của người phụ nữ mang thai có xu hướng giữ muối và giữ nước lại do lượng hoóc môn sinh dục oestrogen tiết ra nhiều hơn. Song song với hiện tượng tăng lượng máu là hiện tượng huyết áp hạ thấp hơn mọi khi.

Trường hợp thừa Na

Nhưng, điều quan trọng là giữa Na và nước trong các chất dịch không còn tỷ lệ hài hòa nữa. Bởi vậy, khi cơ thể bị mất nước, không nên chỉ nghĩ tới việc ăn thêm muối vì đôi khi việc này có hậu quả không tốt cho sức khỏe.
Cơ thể thừa na có thể dẫn tới các chứng bệnh như : phù, suy tim, suy thận, suy gan và huyết áp cao.
Một số nhà khoa học nghiên cứu về huyết áp đã nhận thấy người Indien ở tây bắc Brazin và người Eskimô có thói quen ăn nhạt và rất ít người bị cao huyết áp. Trái lại có nhiều người dân ở miền Bắc nước Nhật và người Mỹ bị bệnh cao huyết áp và họ đều là những người quen ăn mặn.
Vậy Na có phải là thủ phạm gây ra bệnh cao huyết áp không? Nhiều nhà khoa học nghĩ rằng Na không gây ra bệnh này nhưng tạo điều kiện cho bệnh xuất hiện. Nguyên nhân của bệnh có thể do hệ thống bơm hút các ion Na+ ở màng tế bào hoạt động kém dẫn tới sự phân phối các ion Na+ trong cơ thể không hợp lý. Hệ thống này cũng có thể hoạt động yếu đi do bệnh suy tim, do thuốc trợ tim, nhưng có thể phục hồi lại bằng các hợp chất có magiê. Bởi vậy, người ta suy ra rằng : có 3 nguyên tố cùng tham gia vào sự phân phối nước trong cơ thể là natri (Na), kali (K) và magiê (Mg).
Nguồn natri trong tự nhiên và trong đời sống
Nguồn na tự nhiên đầu tiên là thực phẩm. Không có loại thực phẩm nào, dù chĩ là rau, quả, mà không chứa Na. Dứa (trái thơm) là thực phẩm chứa ít Na nhất : 0,3 mg/100g. Một số rau, củ khác chứa nhiều hơn như rau cải xoong, rau cần tây, củ cải, cà rốt chứa tới 50 mg/100g. Người kiêng ăn mặn không nên ăn loại rau củ này.
Sau đây là bảng kê lượng Na có trong 100g một số thực phẩm :
Loại thực phẩm
Lượng natri (mg/100g)
Hải sản (sò, hến…) 70 – 330
Trứng 120 – 330
Cá 70 – 100
Thịt 40 – 90
Sữa 50
Phó mát (phô-mai) 40
Rau tươi 5 – 15
Nguồn cung cấp Na thứ hai cho chúng ta là thức ăn. Do thói quen chế biến thức ăn từ xưa, hầu hết món ăn nào người làm bếp cũng cho muối vào. Ngay cả các loại thức ăn làm sẵn, đóng hộp, được sản xuất trong công nghiệp cũng vậy.
Loại thức ăn làm sẵn
Lượng natri (mg/100g)
Giăm bông (đùi heo hun khói) 2100
Phô mai Camembert 1000 – 1200
Bích quy mặn 1000 – 1200
Ba-tê, xúc xích 800 – 1200
Phô mai Roquefort 500 – 1000
Bơ mặn 870
Bắp cải muối chua 650 – 800

Nhu cầu về natri của cơ thể

Để thực hiện việc điều chỉnh này, có những bộ phận bơm hút của tế bào đẩy các ion na+ ra ngoài và hút các ion K+ vào trong khi cần thiết. Hàng ngày, hệ thống bơm hút này tiêu thụ mất 20% năng lượng do cơ thể sản ra, bằng với năng lượng tiêu thụ bởi bộ não. Cùng các ion khác, ion Na+ còn tham dự vào việc dung hòa các chất có tính axit hoặc bazơ để giữ cho độ pH của máu không thay đổi.
Là phần tử mang điện, ion Na+ còn tham gia vào việc truyền các thông tin nhận được từ não và hệ thần kinh, ra lệnh cho các cơ co hoặc duỗi.
Cơ thể chúng ta ít khi bị thiếu Na mặc dù luôn có hiện tượng Na bị thải ra ngoài theo đường tiêu hóa, nước tiểu và mồ hôi. Lượng Na bị thải chỉ vào quãng 800 – 1600 mg/ngày trong khi chúng ta nhận được từ thức ăn là 4000 – 6000 mg/ngày do thực phẩm nào cũng chứa natri và chúng còn được chế biến với muối ăn. Tỷ lệ Na trong muối ăn là 40%.
Trường hợp thiếu Na
Cũng có khi cơ thể cần bổ sung thêm Na như trong các trường hợp sau :
Làm việc nặng trong thời gian lâu, dưới trời nắng hoặc ở nơi nóng, như trường hợp người nông dân làm việc ngoài đồng, các vận động viên thi đấu những môn thể thao nặng như chạy ma-ra-tông, tập tạ, đua xe đạp đường trường…
Người bệnh bị mất nước do nôn – ói, bị tiêu chảy lâu ngày. Người bị bệnh thận nên thận không giữ được Na cho cơ thể.
Người lạm dụng thuốc tẩy, thuốc nhuận tràng.
Đối với người khỏe mạnh, đã thích nghi được với nơi đang sống, làm việc vừa sức thì nếu cơ thể có thiếu một ít Na cũng không có ảnh hưởng gì vì thận thường giữ lại được phần lớn Na có trong mồ hôi và nước tiểu. Lượng Na thiếu sẽ mau chóng được bù đắp lại bằng việc ăn uống.
Trong những trường hợp nặng, người bị thiếu Na cảm thấy miệng khô, chán ăn, tim đập nhanh, đôi khi thấy buồn nôn, bị chuột rút (vọp bẻ). Trường hợp trầm trọng thì huyết áp xuống thấp, mắt trũng, da khô, khi véo nhẹ rồi buông tay, da vẫn giữ nguyên vết nhăn.
Những đối tượng dễ bị thiếu Na là : trẻ em , người già và người tàn tật do cơ thể dễ bị thiếu nước. Trẻ em không biết đòi uống đủ nước khi khát, sự cảm thấy khát của người già bị thoái hóa, người bị tàn tật có thể không tự phục vụ được mình. Thật ra thì sự mất nước của cơ thể không kèm theo sự mất Na, vì Na vẫn ở lại trong máu.

Vấn đề bổ sung kali cho cơ thể

Nếu hiện tượng thiếu này kéo dài, người bệnh có thể bị loạn nhịp tim và bại liệt.
Ngược lại sự thừa kali có thể gây viêm ruột, suy thận, loạn nhịp tim hoặc trầm trọng hơn, làm tim ngưng đập.
Nguồn kali trong tự nhiên
Mỗi người có thể hấp thụ được mỗi ngày từ 2 – 6 g kali bằng việc ăn uống. Những thực phẩm nào nhiều kali thì lại ít natri.
Lượng mg kali có trong 100 g thực phẩm (mg/100g) :
Loại thực phẩm
Lượng kali
Bột đậu tương (đậu nành) 1700 – 2000
Quả sấy khô 700 – 1900
Đậu quả, đậu hạt 1000
Thực phẩm có chất dầu 400 – 1000
Rau tươi 200 – 1000
Lúa mạch đen 450
Cá hồi, gan cá 400
Chuối 380
Gạo chưa giã (còn cám) 300
Gạo trắng 100
Người thiếu chất kali chỉ nên bổ sung cho cơ thể qua việc ăn các thực phẩm giầu chất kali như các loại rau, quả, ngũ cốc, thực phẩm có dầu.
Việc bổ sung kali cho cơ thể bằng thuốc cần phải được bác sĩ chĩ định và phải theo dõi rất cẩn thận để giữ được sự cân bằng nồng độ giữa icon K+ và Na+, tránh hiện tượng các ion K+ thoát ra ngoài màng tế bào, gây hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe.
Natri (Na)
Natri, tên đầy đủ natrium, còn được gọi là sođium, có ký hiệu là Na. Nói tới natri, người ta thường nghĩ ngay tới muối ăn vì natri là thành phần chính của muối ăn – natri clorua (NaCl). Cơ thể người có chứa khoảng 100g Na, 70% lượng Na có mặt ở bên ngoài và bên trong tế bào ở dạng ion dương (Na+), cò thể đi chuyển qua lại màng tế bào. Phần 30% natri còn lại là thành phần cố định của bộ xương. Nồng độ Na+ trong huyết tương và các chất dịch của cơ thể thường cao gấp 4 – 5 lần nồng độ Na+ bên trong tế bào.
Muối ăn là thực phẩm quen thuộc đối với tất cả mọi người. Những điểm khai thác muối, những con đường vận chuyển muối, thuế đánh vào muối,… ngày xưa đã từng là nguyên nhân của nhiều cuộc chiến tranh giữa các quốc gia trên thế giới.
Vai trò của natri trong cơ thể con người
Natri có tính hút nước và giữ nước. Trong cơ thể chỗ nào có natri thì chỗ đó sẽ có nước. Natri còn có xu hướng di chuyển tới những điểm có nồng độ thấp hơn, nên thường thấm qua thấm lại màng tế bào để điều chỉnh lượng natri bên trong với bên ngoài, tránh không để nồng độ natri bên trong tế bào cao quá mức, vì như vậy sẽ làm cho tế bào căng phồng lên tới mức có thể bị vỡ.

Nhu cầu về kali của cơ thể

Các tế bào xương thường bám chắc vào bộ xương do ảnh hưởng của áp suất không khí bên ngoài cơ thể. Trong trạng thái không trọng lượng, các tế bào xương dễ tách khỏi xương để tan vào máu, bởi vậy, các nhà du hành vũ trụ phải luyện tập thể dục để phòng tránh bệnh loãng xương.
Một số thuốc bổ có canxi thường có tên bắt đầu là từ Ca hay từ Os là xương. Thí dụ : Calcium 500, Cacit 500, Bioptimum Osseus, Ossopan, v.v…
Kali (K)
Kali, tên đầy đủ là kalium, còn được gọi là potassium, có ký hiệu K, là một kim loại mềm. Những hợp chất của nguyên tố này khi tan trong nước sẽ tạo ra những ion kali mang điện dương (K+).
Năm 1938, nhà sinh – hóa học mac Collum lần đầu tiên chứng minh được vai trò quan trọng của nguyên tố kali trong cơ thể con người. Cơ thể một người nặng 70 kg có vào khoảng 140g kali, 90% khối lượng này nằm trong các tế bào, độ tập trung ở các dịch tiêu hóa cao ion K+ ở bên trong tế bào luôn cân bằng với nồng độ các ion Na+ ở bên ngoài tế bào. Natri có tính hút nước và giữ nước, làm cho máu và các chất dịch có tính linh động, dễ chuyển dịch, còn kali không có tính chất ấy. Sự cân bằng giữa nồng độ 2 ion K+ và Na+ rất quan trọng đối với các cơ tim. Sự thiếu hoặc thừa K+ ở các tim đều khiến cho tim đập mau hơn, dẫn tới các bệnh loạn nhịp tim. Khi cơ thể thiếu chất magiê (Mg) hoặc thiếu oxy do mạch bị tắc nghẽn, các cơ tim sẽ bị mệt mỏi, tiết ra chất axít lactic làm giảm nồng độ ion K+. Việc cấu tạo ra các tế bào mới trong quá trình mang thai của phụ nữ ở độ tuổi cơ thể đang phát triển, trong trường hợp cơ thể có vết thương đang hàn gắn, người bệnh đang hồi phục, đều làm cho lượng kali trong cơ thể bị giảm sút.
Cơ thể con người luôn có nhu cầu về kali, nhưng với mức độ thích hợp. Hiện tượng thiếu hoặc thừa kali đều gây ra không tốt cho sức khỏe. Những trường hợp thiếu kali xảy ra sau khi người bệnh dùng các loại thuốc tẩy, thuốc lợi tiểu, thuốc có chất corticoid, chất cam thảo trong thời gian dài, dẫn tới sự mất cân bằng về nồng độ K+ với Na+ ở hai bên màng tế bào. Hiện tượng thiếu kali của cơ thể thường đi đôi với hiện tượng thiếu magiê (Mg), làm cho người bệnh mệt mỏi, hay bị chuột rút (vọp bẻ), có cảm giác kiến bò ở tay chân, bị rối loạn tiêu hóa.

Kinh nguyệt không đều hoặc mãn kinh sớm

Bình thường, hàng ngày vẫn còn có một lượng canxi bị thải ra ngoài cơ thể qua đường tiêu hóa : 450 mg qua phân, 100 – 250 mg trong 1 lít nước tiểu. Ngoài ra, trong 1 lít mồ hôi cũng có 100 – 150 mg canxi.
Trong thời gian mang thai, người mẹ phải chuyển khoảng 30 g canxi qua nhau thai để tạo bộ xương cho thai. Những người ăn uống kiêng khem để giảm cân đều bị suy xương. Những người bị thiếu canxi thường gầy ốm, xanh xao, máu chậm đông, phụ nữ có kinh nguyệt không đều hoặc mãn kinh sớm.
Vì việc hấp thụ canxi của cơ thể cần có sự kích thích và định hướng để canxi hòa nhập với các tế bào xương, tránh hiện tượng đóng cặn tại các cơ quan nội tạng gây ra các bệnh sỏi, bệnh tim mạch nên khi dùng thuốc để bổ sung thêm canxi cho người bệnh, các bác sĩ thường chỉ định thêm các thuốc khác như : vitamin D, vitamin B6, vitamin C, magiê và kẽm.
Vitamin D quan trọng cho sự hấp thụ canxi, có trong các loại cá biển chứa nhiều chất béo, đặc biệt ở gan của chúng. Những axit béo trong cá có tác dụng hạn chế hiện tượng loãng xương.
Những người kém ăn, người già, phụ nữ sau khi mãn kinh cơ thể ngưng sản xuất ra hoóc môn sinh dục oestrogen để kích thích sự hấp thụ canxi thường dễ bị bệnh này. Bởi vậy, riêng đối với phụ nữ, việc bổ sung hoóc môn sinh dục khi cần thiết là một phương pháp bảo vệ bộ xương, đề phòng những bệnh về xương khớp, những tai nạn gãy xương, nhất là xương đùi và xương cổ tay.
Các thực phẩm như phô mai, thịt nạc, dầu ăn thực vật đều là các thực phẩm có lợi cho xương. Các nhà khoa học cho rằng cacao, socola cũng có tác dụng kích thích sự hấp thụ canxi. Các thực phẩm có chất xơ, kể cả các loại hạt, đều không có ảnh hưởng gì về vấn đề này.
Bình thường, việc ăn uống hàng ngày cũng đã cung cấp đủ chất phốt pho cho cơ thể, nên người ta thường chỉ chú ý nhiều tới việc tránh hiện tượng dư thừa nguyên tô này, vì phốt pho có thể kết hợp với canxi tạo thành các muối không tan trong cơ thể, tạo ra cặn ở một số cơ quan và ngăn cản sự lưu thông của máu. Cũng vì vậy mà các nhà sinh hóa thường khuyên mọi người không nên uống nhiều nước ngọt có gaz vì loại nước giải khát này thường chứa những hợp chất của phốt pho. Cũng nên tránh ăn mặn và uống nhiều cà phê vì như vậy sẽ làm lượng canxi thoát ra ngoài nhiều hơn theo nước tiểu.

Phương pháp bổ sung canxi và giữ cho xương chắc

Tỷ lệ canxi ở màng tế bào, trong tế bào hay nhân tế bào có ảnh hưởng quyết định tới năng lượng của tế bào.
Trẻ sơ sinh, trẻ em ở độ tuổi đang lớn, phụ nữ mang thai hoặc nuôi con bằng sữa mẹ, phụ nữ sau tuổi mãn kinh, người già, người vừa bị tai nạn giập, nứt, gãy xương, đều có nhu cầu tăng cao về canxi. Người lớn đã qua tuổi trưởng thành, người có thói quen uống nhiều chất nước có gaz, uống nhiều cà phê trong ngày, uống thuốc có chất corticoid trong thời gian dài, đều cần được bổ sung thêm canxi.
Các bác sĩ thường chỉ định bổ sung canxi mỗi ngày cho các độ tuổi như sau :
Độ tuổi
Lượng dùng hàng ngày
Trẻ sơ sinh 400 mg/ngày
Trẻ em từ 1- 3 tuổi 600
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 700
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 1000
Nữ từ 13 – 19 tuổi 1200
Nam từ 13 – 19 tuổi 900
Phụ nữ đã mãn kinh 1200 – 1500
Người già 1200 – 1500
Nguồn canxi trong thực phẩm
Có hai nguồn canxi trong thực phẩm : sữa, cùng các sản phẩm từ sữa như phómát (phô-mai), cá và các loại rau tươi.
Tùy theo cách chế biến, lượng canxi có trong 100g sản phẩm từ sữa hoặc từ rau-hat như sau :
Sữa và sản phẩm từ sữa, cá
Phô mai bò 540 – 100mg/ 100g
Phô mai dê 190
Yaourt 140
Sữa 120
Cá mòi (sác-đin) 330
Một số rau và sản phẩm từ thực vật
Hạt hạnh nhân 234 mg/100g
Rau cải xoăn (cresson) 180
Củ cải 150
Quả chà là khô 126
Sữa đậu nành 120 – 150
Quả ô liu 106
Bắp cải, dưa bắp cải 48
Các loại rau xanh và quả tươi 20 – 60
Cần chú ý rằng sữa bò và các sản phẩm của sữa bò không phải là loại thức ăn tuyệt hảo và không thể nào thay thế hoàn toàn sữa mẹ, vì có chứa một số chất không hợp với cơ thể của con người. Những axít béo của sữa bò sinh ra quá nhiều năng lượng có thể gây dị ứng, bệnh béo phì, các bệnh về tim mạch, bệnh ung thư, bệnh tiểu đường, bệnh vẩy da, bệnh đục thủy tinh thể ở mắt. Bởi vậy,để bổ sung chất canxi cho cơ thể con người, ngoài việc dùng sữa bò, còn nên dùng nước khoáng (trừ người có bệnh sỏi), ăn yaourt (2-3 lần/ngày) vì sự lên men của yaourt làm chuyển hóa chất sữa, uống thêm sữa đậu nành (khi được cô đặc, sữa đậu nành chứa nhiều canxi hơn sữa bò).
Cơ thể thừa hay thiếu canxi đều không tốt cho sức khỏe, nhưng phần lớn là những người có vấn đề với canxi đều là người bị thiếu.

Tác dụng của canxi đối với cơ thể người

Lưu huỳnh (S) có vai trò bao bọc hoặc đính kết các tế bào lại với nhau thành chuỗi dài như sợi tóc.
Ngoài ra, những nguyên tố này còn có mặt trong các chất dịch, tạo ra những phản ứng và những dòng điện sinh học phức tạp giúp cho cơ thể tồn tại và hoạt động. Do đó, hiện tượng thiếu hoặc thừa những nguyên tố này trong cơ thể đều có thể gây ra những rối loạn về sức khỏe mà chúng ta cần biết rõ.
Canxi (Ca)
Canxi là nguyên tố có nhiều nhất trong cơ thể của chúng ta, 98 – 99% canxi tập trung ở xương và răng, chiếm 1,6% trọng lượng của mỗi người, vào khoảng từ 1000 – 1500; 1% lượng canxi còn lại có những vai trò rất quan trọng cả ở bên trong và bên ngoài các tế bào.
Qua những hình tượng thời tiền sử ở Ai Cập những người ở đất nước này đã biết tắm nắng để lợi xương. Nhưng phải tới năm 1842, Chossat, một nhà khoa học Pháp, mới chứng minh được rằng xương của những con chim bồ câu sẽ yếu hẳn đi nếu bị thiếu chất canxi.
Canxi là thành phần chính của xương và răng. Cùng với phốt pho và magiê, canxi có vai trò là hàn gắn những điểm xương bị tổn thương, bảo quản xương, giúp xương phát triển và giữ được tính cứng, chắc.
Do phải chịu đựng sức nén của trọng lượng cơ thể và sự ma sát lúc vận động nhiều tế bào xương ở đầu khớp luôn luôn bị vỡ ra rồi lại được tái tạo lại. Để hấp thu được nhiều canxi trong công việc này, các tế bào xương đã được sự hỗ trợ của vitamin D, phốt pho và magiê : vitamin D kích thích sự hấp thụ, magiê điều phối canxi vào xương để cùng phốt pho tạo ra những tế bào mới.
Khi cơ thể không được tiếp tế đầy đủ canxi (do ăn uống thiếu chất) các tuyến nội tiết sẽ tiết ra những hoóc môn có tác dụng điều động chất canxi của xương tan vào máu, khiến cho tỷ lệ canxi trong máu không giảm, nhưng làm cho xương yếu và dễ bị gẫy. Việc xét nghiệm máu nhiều khi sẽ không thể phát hiện được hiện tượng bị thiếu canxi của cơ thể. Hiện tượng canxi của xương tan vào máu xảy ra với tất cả mọi người từ tuổi 20 trở đi, nhưng nhiều hơn ở người già, phụ nữ kể từ tuổi mãn kinh, khi cơ thể không sản xuất ra hoóc môn sinh dục oestrogen nữa.
Canxi còn có liên quan tới các hiện tượng co cơ, nhịp đập của tim, sự đông đặc của máu, việc tách các chất axit béo ra khỏi màng tế bào.