Month: April 2016

Bảy nguyên tố thường được có nhiều trong cơ thể

Người đàn ông nào đang độ sung mãn cũng bị thiếu chất kẽm, nhưng nếu dùng thuốc quá liều lượng khiến lượng kẽm dư gấp 10 lần bình thường thì sẽ làm cho các tế bào chóng bị lão hóa. Người bị thừa các chất sắt và đồng cũng mau già hơn người thường. Một số nhà khoa học còn cho rằng, sở dĩ phụ nữ sống lâu hơn đàn ông vì họ có thời kỳ kinh nguyệt để thải bớt chất sắt thừa trong máu ra ngoài. Sắt và đồng là hai nguyên tố bị xem là có tác dụng tạo ra các gốc tự do làm cơ thể mau già. Đàn ông do không có sự “chiếu cố” đó của tạo hóa, nên cần ăn ít các loại thịt có màu đỏ (thịt bò) và tránh uống nước trà sau bữa ăn (vì trà có khả năng hấp thụ chất sắt).
Việc tự sử dụng các loại thuốc có nguyên tố vi lượng (không có sự chỉ định của bác sĩ) nên theo một số điểm sau :
Không ham dùng các thuốc có hàm lượng kim loại cao mà chỉ nên dùng các thuốc có chứa lượng kim loại tính bằng miligam (mg) hoặc nhỏ hơn.
Nên dùng các dược phẩm có chứa sẵn nhiều nguyên tố kim loại hoặc vitamin khác nhau vì những hãng sản xuất đã cố ý dùng các chất có tính hỗ trợ nhau. Không nên tự ý dùng nhiều vitamin hay thuốc có kim loại cùng một lúc (nếu không hiểu gì về thuốc) để tránh hiện tượng “kỵ” nhau giữa các thuốc.
Nếu có điều kiện, tốt nhất là chúng ta nên hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi dùng thuốc (mặc dù là thuốc bổ) hoặc ít nhất cũng nên đọc kỹ bản hướng dẫn sử dụng thuốc có trong hộp thuốc, trước khi dùng.
Cần chú ý rằng việc ăn uống điều độ và hợp lý các chất cần thiết cho cơ thể cùng với môi trường sống trong lành, không bị ô nhiễm, bao giờ cũng là những điều kiện cơ bản trong việc giữ gìn sức khỏe và tuổi thọ của con người.
Có 7 nguyên tố hiện diện trong cơ thể con người với khối lượng đáng kể, hàng chục kilôgam trong khi những nguyên tố khác chỉ có từ một vài phần nghìn đơn vị tới vài chục miligam.
Bảy nguyên tố đó là : canxi (Ca), clo (Cl), kali (K), magiê (Mg), natri (Na), phốtpho (P) và lưu huỳnh (S). Một số nguyên tố dự phần cấu tạo nên các tế bào như Ca, Mg, P đối với tế bào xương. Với những nguyên tố K, Na, Cl lại giữ nhiệm vụ kiểm soát sự phân phối nước, các màng tế bào, tạo cho mỗi tế bào một hình dáng nhất định.

Việc dùng quá liều lượng các chất có kim loại

Thí dụ : hầu hết các trẻ em đều thiếu vitamin D, tất cả phụ nữ mang thai đều cần được bổ sung thêm chất sắt, 90% đàn ông đều cần tiếp thêm chất kẽm và cũng hơn 90% trẻ em ở tuổi đang phát triển cùng hầu hết các cụ già đều cần bổ sung thêm canxi.
Những chất bổ sung thêm cho cơ thể có tác dụng bồi dưỡng thêm sức khỏe, phòng bệnh, hỗ trợ việc điều trị bệnh hoặc chữa bệnh. Tuy nhiên, chúng ta phải biết cách sử dụng thuốc :
Không nên dùng cùng một lúc chất kẽm và sắt vì chúng sẽ làm mất tác dụng của nhau. Không nên dùng cùng lúc vitamin C với sắt, vitamin C với đồng, vitamin E với đồng vì chúng sẽ phối hợp với nhau làm cho các tế bào bị lão hóa nhanh hơn (ngược với ý muốn của chúng ta).
Nên dùng phối hợp magiê với các vitamin B vì magiê làm tăng tác dụng của các vitamin B lên gấp bội.
Dùng với liều lượng thích ứng để bổ sung cho việc ăn uống không cung cấp đủ các chất cần thiết cho cơ thể. Liều lượng phải phù hợp với từng nhóm người : trẻ em, phụ nữ, phụ nữ đang mang thai, người già; phù hợp với từng trường hợp như người bị stress, người bị bệnh tim mạch, vận động viên thể thao đang thi đấu, học sinh đang học thi, v.v…
Một số thuốc có kim loại mặc dù được sử dụng với liều lượng cao hoặc dùng quá liều lượng cũng ít gây ngộ độc do sự hấp thụ các kim loại qua sự tiêu hóa của cơ thể rất chậm.
Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp mà chúng ta cần phải chú ý, như :
Khi có dư vitamin D, cơ thể sẽ hấp thụ canxi dễ dàng hơn tới mức dư thừa khiến canxi có thể bị đóng cặn ở thận, trong mạch máu, ở các khớp xương và đôi khi ở cả não. Hiện tượng canxi hóa các tế bào mềm như vậy rât dễ xaỷ ra ở người cao tuổi. Bởi vậy, cần phải duy trì một lượng magiê (Mg) cần thiết trong cơ thể để ngăn không cho canxi thâm nhập vào các tế bào mềm, hướng canxi hội nhập vào các tế bào xương.
Magiê có dư cũng có thể làm cho chúng ta bị tiêu chảy, nhưng phần lớn sẽ bị thải ra ngoài qua đường tiểu tiện. tuy vậy, những người bị các bệnh về thận, mật và bệnh tim cần phải chú ý nhiều hơn khi dùng các dược phẩm có magiê.
Nói chung, tuy việc dùng quá liều lượng các dược phẩm có kim loại thường ít khi gây ra những phản ứng và tác hại ngay, nhưng tốt nhất vẫn phải tuân theo sự chỉ định của bác sĩ.

Sử dụng thuốc bổ có vitamin và các nguyên tố vi lượng

Ngoài ra, trong nước máy còn có các muối của nitơ, các kim loại đồng và chì (do chảy qua các ống dẫn nước bằng kim loại này), các hóa chất dùng để tẩy mầu hoặc khử trùng, kể cả thuốc trừ sâu từ nước ở nơi đất trồng trọt chảy vào nguồn nước về nhà máy. Clo thường được dùng để khử trùng là một chất có tính oxy hóa mạnh, sẽ chuyển thành clorôfoóc, là một chất độc làm tăng thêm khả năng gây ra bệnh ung thư, có ảnh hưởng không tốt tới phụ nữ đang mang thai và phôi thai.
Trên đường dẫn từ nhà máy tới nơi tiêu dùng, những điểm của ống nước bị rò rỉ có thể làm cho nước bị ô nhiễm. Mặc dù tất cả các chất vừa kể trên chỉ có mặt trong nước máy với tỷ lệ rất nhỏ, nhưng cũng đủ để chúng ta thấy rằng không nên uống nước trực tiếp, mà vẫn cần phải đun sôi.
Về nước khoáng
Nước khoáng là nước được lấy từ các nguồn nước tự nhiên ở sâu trong lòng đất, thường có chứa canxi và magiê ở dạng các muối sunfat (SO4) và bicácbônát (HCO3) ở nồng độ tương đối cao. Cao bao nhiêu còn tùy thuộc vào nơi khai thác. Lượng canxi có thể từ 70 – 555 mg trong 1 lít nước khoáng, lượng magiê từ 9 – 110 mg/l. Ngoài ra sự có mặt của một số muối natri có thể khiến cho nước khoáng có một vị riêng (Hơi mặn).
Việc khai thác nước khoáng để làm nước uống trong thương trường bắt buộc phải qua khâu tiệt trùng trước khi đóng chai, vì ngày nay trái đất của chúng ta đã bị quá ô nhiễm nên không thể tin tưởng vào việc nước đã được lọc qua các lớp đất trong tự nhiên. Tất cả các loại nước uống được đựng trong chai không tiện lợi bằng vì nặng hơn dễ vỡ. Nên để các chai nước ở nơi mát để hạn chế sự sinh sôi cũa các vi khuẩn có thể còn sót lại sau khi đóng chai. Chai nước đã mở (khui) cần phải dùng ngay, vì để lâu vi khuẩn sẽ lọt vào nước và phát triển.
Thuốc bổ trong phần này chỉ đề cập tới những loại thuốc có các vitamin và các nguyên tố vi lượng mà cơ thể chúng ta thiếu. Những nguyên nhân và những người cần phải dùng thuốc thuộc mọi lứa tuổi, ở cả hai giới nam và nữ. Có những chất cần bổ sung cho hầu hết mọi người, như iốt (I). Có nhiều quốc gia trên thế giới đã dùng iốt trộn vào muối để cho nhân dân dùng. Nhiều khi, việc dùng vitamin hoặc bổ sung một chất nào đó cho một lứa tuổi hoặc một trường hợp thường gặp được coi như là điều tất yếu.

Những tiêu chuẩn của nước uống được

Hiện nay, các nhà khoa học đã xác định : nước khoáng có tác dụng chống chứng cao huyết áp. Chất magiê có khả năng điều hòa sự hấp thụ chất canxi của các tế bào, phòng tránh được hiện tượng co cơ và stress. Trong nhiều cuộc hội thảo về y học, nhiều nhà khoa học cho rằng magiê còn có khả năng kiềm chế sự xuất hiện của các gốc tự do torng cơ thể nên hạn chế được sự lão hóa của các tế bào.
Cơ thể phần lớn chúng ta đều không đủ lượng magiê và canxi cần thiết, bởi vậy, uống nước khoáng là cách bổ sung thuận tiện nhất hai nguyên tố này cho cơ thể, trừ trường hợp những người bị bệnh sỏi, như sỏi mật, sỏi thận.
Nước trong tự nhiên thường có chứa nhiều muối khoáng cùng các tạp chất làm cho nước vẩn đục, bởi vậy cần phải xử lý nước trước khi dùng. Để được coi là “nước uống được” hay nước sạch, cần phải có đủ một số tiêu chuẩn về tính chất lý – hóa như sau :
Mẫu nước uống được (đối với 1 lít nước ở 15 độ C)
Không mầu trong tự nhiên
Lượng chất vẩn đục 15 giọt/l
Tổng lượng khoáng chất 2 g/l
Lượng nitơ trong NH3 0,06 mg/l
Lượng nitơ trong muối nitrít (NO2) 0,1
Lượng nito trong muối nitrát (NO3) 44
Lượng clo trong clorua (Cl) 250
Lượng lưu huỳnh trong sunphát (SO4) 250
Magiê (Mg) 125
Sắt (Fe) 0,2
Mangan (Mn) 0,1
Kẽm (Zn) 5,0
Đồng (Cu) 1,0
Chì (Pb) 0,1
Flo torng muối florua (F) 1,0
Selenium (Se) 0,05
Arsenic (As) 0,05
Clo đơn chất (Cl2) 0,1
Giới hạn về lượng của một số nguyên tố độc trong nước sạch
Lượng đơn chất độc cho phép có trong 1 lít nước (mg/l) :
Arsenic (As) 0,05 mg/l
Cadmium (Cd) 0,01
Thủy ngân (Hg) 0,001
Chì (Pb) 0,1
Selenium (Se) 0,01
Giới hạn hợp chất :
Xyanua (CN) 0,06 mg/l
Florua (F) dưới 1,2
Nitrát (NO3) 45,0
Những điều cần biết về nước máy
ở các thành phố lớn, nước cung cấp cho người dân qua đường ống đã được xử lý qua một số giai đoạn lọc, lắng, khử trùng bằng hóa chất, được gọi là nước máy. Nước máy chưa phải là nước uống tốt vì ngoài một ít magiê và canxi, nước còn chứa cả nhôm (Al) nữa. Nhôm là thành phần của hóa chất được cho vào nước trong khâu lọc nước, không có lợi cho xương vì chiếm chỗ của canxi trong xương, làm xương kém chắc.
Bệnh viện và lớp học chuyên về tình dục
Cứ theo truyền thuyết thì từ thuở xa xưa, khi tạo hoá nặn ra ông Ađam và bà Êva rồi để họ cùng nhau chung sống ở vườn địa đàng thì chẳng có ai hướng dẫn họ nên làm những điều gì tiếp theo nữa. Vậy mà ngày nay, con cháu họ cũng đã có mặt tại khắp mọi nơi trên Trái Đất. Hình như cái chuyện thực hành việc yêu đương để sinh con đẻ cái là linh tính của con người chẳng cần ai bảo mà rồi ai cũng biết.

Những thực phẩm hợp nhau và kỵ nhau

Ăn những thực phẩm có chứa vitamin D có tác dụng giúp cơ thể dễ hấp thụ chất canxi hơn, nhưng uống nhiều cà phê hoặc ăn mặn lại làm cho canxi bị thải ra ngoài theo nước tiểu. Trẻ em không nên uống nhiều nước soda (nước ngọt có gas) vì tính axit của nước có hại cho bộ xương. Để bảo vệ xương, phụ nữ đang mang thai cũng không nên uống nhiều cà phê trong ngày.
Trái cây hoặc nước quả có nhiều vitamin C giúp cơ thể hấp thụ các chất sắt dễ dàng hơn 4 – 6 lần, nhưng nước trà (chè) lại khiến khả năng hấp thụ sắt của cơ thể giảm đi 4 – 5 lần. Bởi vậy, phụ nữ ở thời kỳ tiền mãn kinh thường bị thiếu chất sắt, không nên uống nhiều nước trà sau bữa ăn, trong khi đàn ông thường bị dư chất sắt, lại nên dùng nước trà để hạn chế lượng sắt trong cơ thể.
Những vấn đề về nước
Nước là một nhu cầu không thể thiếu của cơ thể, đồng thời cũng là nguồn cung cấp các muối khoáng, các nguyên tố vi lượng, giúp máu lưu thông dễ dàng trong mạch, tham gia tẩy, rửa và loại bỏ các chất cặn bã, độc hại ra ngoài qua các tuyến mồ hôi và đường tiêu, tiểu. Nước đối với con người rất quan trọng nên chúng ta cần hiểu biết về nước để sử dụng nước trong đời sống một cách tốt nhất.
Nước mềm và nước cứng, tác dụng của nước cứng
Người ta gọi loại nước có chứa nhiều các muối magiê và canxi là nước cứng và nước đã loại được phần lớn các muối trên là nước mềm. Trước kia, người ta thường chĩ chú ý tới việc làm cho nước mất cứng, để có một loại nước có khả tan hòa tan các chất tốt hơn, không gây ra hiện tượng đóng cặn trong các ống dẫn, nhất là các ống của nồi hơi nước (nồi súp de) trong công nghiệp. Nhưng thời gian gần đây, nước cứng lại được các nhà khoa học đặc biệt chú ý vì sự liên quan của nó đối với sức khỏe của con người.
Năm 1957, Kobayashi – một nhà khoa học Nhật Bản, đã công bố công trình nghiên cứu tính chất lý hóa của hơn 600 nguồn nước ở Nhật, để giải thích tại sao, số người bi bệnh tim mạch ở Nhật thấp hơn ở Anh và Mỹ. Ông cho rằng do nước ở Nhật có độ cứng cao hơn ở Anh và Mỹ.
Năm 1960, nhà khoa học người Mỹ Schoroeder muốn kiểm chứng lại nhận xét trên đã nghiên cứu nước tại nhiều thành phố và các tiểu bang ở nước Mỹ và cũng thấy rằng ở những miền nước cứng, số người bị bệnh tim mạch giảm đáng kể.

Gan có nhiều chất bổ dưỡng

Rất đáng tiếc là nơi cung cấp lớn nhất về cá và các hải sản khác là biển thì ngày nay đang ngày càng càng bị ô nhiễm nhiều hơn do bị các tàu, thuyền xả dầu, nhớt và đủ loại rác xuống nước khiến cho nhiều sinh vật biển bị ngộ độc vì nhiễm phải các chất có chứa nguyên tố kim loại nặng. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần phải có ý thức và phổ biến ý thức bảo vệ môi trường, giữ sạch các cửa biển và đại dương.
Gan các loại gia súc cùng các thực phẩm chế biến từ gan (như pate gan) đều giàu chất sắt, kẽm và nhiều loại vitamin, đặc biệt là vitamin A. Các chuyên gia nghiên cuuứ về chế độ ăn thường khuyên chúng ta nên ăn thức ăn có gan, mỗi tuần từ 1 – 3 lần, trừ trường hợp các phụ nữ đang mang thai ở thời kỳ đầu (1- 3 tháng) chỉ nên ăn các thực phẩm có gan mỗi tháng 1 lần đề phòng cơ thể bị dư vitamin A, ảnh hưởng tới thai (xem mục vitamin A).
Gan có nhiều chất bổ dưỡng, nhưng là một cơ quan có nhiệm vụ sàng lọc để loại bỏ các chất độc hại trong cơ thể, nên chính gan cũng là nơi tích tụ các chất không có lợi cho sức khỏe. Bởi vậy, ở một số nước, những người tiêu thụ thường chú ý cả tới nơi xuất xứ của những con vật được nuôi để giết thịt. Người ta chuộng gan và thịt những con vật được nuôi thả trên những cánh đồng trong tự nhiên hơn loại thịt những con vật được nuôi nhốt một chỗ và chỉ được ăn những thức ăn công nghiệp. Ở những nơi có dịch bệnh súc vật như bệnh bò điên, người ta chỉ ăn gan các gia cầm như gà, vịt.
Rau, quả chứa nhiều các chất có natri (Na) và kali (K), là hai nguyên tố có vai trò điều chỉnh lượng nước trong cơ thể. Ngoài ra, rau quả còn chứa các vitamin A, C, P và nhiều nguyên tố có khả năng giúp cơ thể phòng tránh các bệnh về tim mạch, bệnh ung thư, các bệnh vể da, chống sự lão hóa.
Những rau quả có dầu đều có chứa magiê (Mg), là nguyên tố giúp cơ thể chống stress và loại bỏ các kim loại nặng. Việc ăn chay lâu ngày, bỏ ăn thịt chĩ ăn các thực phẩm thực vật, cũng khiến cho cơ thể dễ thiếu một số nguyên tố vi lượng và các vitamin, cần phải được bổ sung bằng dược phẩm. Thí dụ, tuy sữa đậu nành rất tốt, có chứa nhiều canxi nhưng không thể thay thể hoàn toàn sữa bò để cung cấp đủ năng lượng cần thiết cho trẻ em đang tuổi lớn, phụ nữ mang thai và người già.

Thiếu magiê (Mg)

Người thiếu chất magiê dễ bị kích động, đau cơ bắp, bị chuột rút (vọp bẻ), có cảm giác kiến bò ở chân, mệt, rối loạn tiêu hóa, đầy hơi, thần kinh căng thẳng.
Cơ thể thiếu magiê, lithi (Li) và một số nhựng nguyên tố vi lượng khác, thường làm cho con người chống bị mệt mỏi khi làm việc, dễ quên, khó tập trung tư tưởng, dễ bị stress, có cảm giác da khô, móng tay dễ gãy. Một số người khác lại có những biểu hiện như dễ mất bình tĩnh, hay cáu gắt, có xu hướng ăn ngọt, ăn luôn miệng, uống rượu, hút thuốc… dẫn tới những hậu quả không tốt có liên quan tới các bệnh về tim mạch, bệnh cao huyết áp, bệnh ung thư và các chứng bệnh khác.
Ngoài ra, những người phải làm việc trí óc căng thẳng, bị stress, nghiện rượu, cà phê, hút thuốc, ở nơi không khí bị ô nhiễm, phải dùng những loại thuốc kháng sinh, thuốc trị bệnh trong thời gian dài, đều dễ bị thiếu các nguyên tố vi lượng và cần phải được bổ sung, bằng cách chú ý ăn, uống các thực phẩm có nhiều chất bổ dưỡng và dùng thuốc bổ có chất cần bổ sung.
Việc xác định chất bị thiếu
Để xác dịnh cơ thể bị thiếu chất gì hoặc nguyên tố gì, các bác sĩ thường yêu cầu bệnh nhân đi thử máu. Việc thử máu có thể phát hiện được các hiện tượng cơ thể thiếu : sắt, canxi, kali, magiê, kẽm, đồng…. cùng nhiều nguyên tố khác. Thông thường, việc thử máu chỉ được yêu cầu thực hiện khi bệnh nhân có những triệu chứng thiếu rõ rệt hoặc ở những trường hợp đặc biệt như đang mang thai, có nghi vấn bị bệnh về tim mạch, tiểu đường….
Những vấn đề về thực phẩm
Những thực phẩm nhiều chất khoáng
Những thực phẩm có chất dầu đều chứa nhiều chất khoáng hơn các loại thực phẩm khác như : giả hạnh đào (hạnh nhân), hạt điều, hạt dẻ, lạc (đậu phộng), hạt ngũ cốc (gạo, lúa mì, ngô….), đậu tương, đậu Hà Lan, đậu hạt, các loại cá có nhiều mỡ (cá hồi, cá hương, cá mòi, cá bơn….), các loại hải sản, những loại rau thơm và rau có nhiều chất nhớt.
Sữa và các sản phẩm của sữa chứa nhiều canxi rất cần cho trẻ em đang tuổi lớn, phụ nữ và người già.
Cá là thực phẩm có chứa nhiều chất canxi, kẽm, selenium, iốt… Những chất axit béo trong cá còn có tác dụng bảo vệ tế bào, chống lại sự oxy hóa. Bởi vậy, các chuyên gia về ngành thực phẩm thường khuyên chúng ta nên ăn cá ít nhất là 3 lần trong tuần.
Các loại hải sản, nhất là loài sò, hến, đều chứa nhiều chất kẽm.

Thiếu iốt

Người già ăn ít, xương yếu dễ gãy khi bị ngã, cũng phải được đặc biệt chú ý về việc bổ sung thêm canxi.
Những thí dụ trên cho thấy nhu cầu của cơ thể cần được đặc biệt chú ý ở người phụ nữ mang thai, trẻ em đang độ tuổi cơ thể phát triển, người chơi thể thao, các vận động viên phải thi đấu, người già. Ngoài ra, những người sống ở nơi đất thiếu những nguyên tố hóa học cần, do địa hình hoặc những điều kiện đặc biệt về thổ nhưỡng cũng bị ảnh hưởng, vì các thực phẩm (rau,quả, thịt gia súc) và nước ở trong vùng đều bị thiếu các nguyên tố này.
Một số triệu chứng cơ thể khi thiếu các nguyên tố hóa học cần thiết
Trẻ em bị thiếu iốt sẽ chậm phát triển về trí tuệ. Phần lớn các trẻ em bị thiếu iốt là do cơ thể mẹ đã bị thiếu iốt từ lúc mang thai. Người đã trưởng thành bị thiếu iốt dễ bị mắc bệnh bướu cổ. Những hiện tượng này thường xảy ra với những người sống ở miền núi.
Thiếu sắt (Fe)
Hiện tượng cơ thể thiếu chất sắt thường gặp ở phụ nữ trước tuổi mãn kinh, do mất máu thường xuyên trong khi có kinh nguyệt, dẫn tới chứng thiếu máu, thiếu hồng huyết cầu. Trẻ sơ sinh có mẹ bị chứng thiếu máu dễ bị dị dạng, nhiễm khuẩn, phát triển kém về cả thể lực lẫn trí lực. Chứng thiếu máu xuất hiện khi lượng chất sắt dự trữ ở gan (ferritin) hạ xuống dưới mức tối thiểu.
Thiếu canxi (Ca)
Hiện tượng cơ thể thiếu chất canxi có thể kéo dài hàng chục năm mà vẫn không có những biễu hiện rõ rệt vì bộ xương của mỗi người chúng ta thường vẫn có một lượng canxi dự trữ khoảng 1 kg. Khi lượng canxi trong máu thấp quá mức bình thường, tuyến thượng thận sẽ tiết ra một hoóc-môn để điều động lượng canxi của xương vào máu. Nếu hiện tượng này kéo dài, xương sẽ bị yếu đi và dễ gãy khi bị va chạm trong các tai nạn hoặc vấp ngã nhẹ. Nhiều nhà khoa học còn cho rằng hiện tượng cơ thể thiếu canxi còn có liên quan cả tới bệnh cao huyết áp và ung thư đại tràng.
Thiếu kẽm (Zn)
Cũng như trường hợp thiếu canxi, những người cơ thể thiếu kẽm, gồm đủ mọi lứa tuổi từ trẻ em, người lớn, người già, ở cả hai giới nam và nữ, thường không có triệu chứng rõ rệt, nhưng lại dễ bị các chứng ngộ độc huyết và các bệnh do nhiễm trùng. Người đàn ông ở tuổi đang sung mãn về tình dục thường bị thiếu chất kẽm do kẽm có trong thành phần tinh dịch. Riêng đối với phụ nữ, hiện tượng thiếu chất kẹm hay dẫn tới việc sinh con thiếu tháng, dễ bị trắc trở khi mang thai hoặc khi sinh.

Tác dụng của các muối khoáng đối với cơ thể người

Nhiều muối khoáng có chứa các nguyên tố góp phần xây dựng cơ thể như các muối có lưu huỳnh (S) hay Magiê (Mg) dự phần tạo ra các cơ, mô, canxi (Ca) và phốtpho (P) có mặt trong thành phần xương, sắt (Fe) dự phần tạo ra hồng huyết cầu của máu, v.v…
Ngoài ra, các nguyên tố trong muối còn có nhiều vai trò khác, như vai trò điều hòa lượng nước trong máu của natri và kali : nếu máu có chứa lượng natri và kali vừa đủ, sẽ không có hiện tượng tích nước hoặc thiếu nước ở các cơ, mô.
Một số nguyên tố có vai trò như nhựng chất xúc tác làm cho các phản ứng hóa hoặc xảy ra nhanh hơn, thuận lợi hơn. Một số khác dự phần tổng hợp các hoóc-môn như kẽm (Zn) đối với chất insulin và iốt (I) đối với các hoóc-môn của tuyến thượng thận. Nguyên tố selenium bảo vệ cơ thể bằng cách phát hiện chất độc thủy ngân (Hg) và loại chất này ra ngoài bằng đường tiểu tiện. Kẽm ngăn không để các chất có những kim loại độc hại lọt vào tế bào. Các nguyên tố selenium và magiê còn giúp các tế bào chống lại sự lão hóa, sửa chữa các tế bào đã bị hư hại bởi các tia tử ngoại, chất độc hoặc các gốc tự do.
Chúng ta thường bổ sung các nguyên tố vi lượng cho cơ thể theo 3 phương pháp :
Ăn các thực phẩm đa dạng, chú ý ăn nhiều những thực phẩm có chứa các nguyên tố cần bổ sung. Tuy nhiên việc ăn thường không đáp ứng đủ nhu cầu vì chúng ta có xu hướng ăn ít đi và ăn ngon, mà thức ăn hợp khẩu vị nhiều khu lại không có chất cần bổ sung.
Dùng các thực phẩm đã được trộn các chất cần bổ sung như muối có iốt, nước giải khát có vitamin…
Uống hoặc tiêm chích các thuốc có nguyên tố cần bổ sung cho cơ thể.
Liều lượng hàng ngày
Liều lượng áp dụng cho mỗi người tùy thuộc vào những hoàn cảnh riêng biệt. Thí dụ : cơ thể phần lớn chúng ta đều cần được bổ sung thêm chất sắt và canxi, nhưng phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ đang mang thai, cần được bổ sung nhiều hơn vì khi chưa tới tuổi mãn kinh, phụ nữ thường xuyên bị mất máu hàng tháng, còn khi mang thai họ lại phải cung cấp máu cho thai. Bởi vậy, nhìn chung, cơ thể phụ nữ rất cần có thêm chất sắt để tạo thêm hồng huyết cầu.
Bộ xương của một đứa trẻ đang ở độ tuổi phát triển cần có một lượng canxi gấp 3 lần nhu cầu của người đã trưởng thành.

Các chất muối khoáng

Cơ thể con người không thể duy trì được sự sống nếu thiếu các chất muối khoáng. Những chất muối này có chứa vào khoảng gần 20 nguyên tố kim loại và phi kim loại rất cần thiết cho sự hoạt động của các tế bào, từ các cơ, mô cho tới các hoóc môn và enzyme.
Dưới dạng các phần tử mang điện (ion), các nguyên tố này thiết lập sự giao lưu giữa các tế bào, giữa môi trường bên trong với bên ngoài của màng tế bào và tạo ra những tình huống có ảnh hưởng tới sức khỏe của con người. Thí dụ : tế bào ở trong môi trường dư muối natri (như NaCl) sẽ bị phồng lên, đó là hiện tượng tích nước của bệnh phù thũng, có thể dẫn tới bệnh cao huyết áp. Nếu môi trường thiếu magie (Mg), tế bào sẽ để cho quá nhiều canxi xâm nhập qua lớp màng và sẽ bị kích động một cách bất thường. Nhưng nếu các ion chỉ qua lại bình thường thì đấy là hình ảnh của sự thông tin giữa các tế bào, giữa nhân tế bào với môi trường xung quanh, làm co cơ hoặc giãn cơ, hoặc chuyển các tín hiệu tới hệ thống thần kinh.
Cơ thể con người không sản xuất được các muối khoáng. Một số bộ phận như gan có thể tích lũy được một lượng muối sắt nhưng chỉ đủ dùng trong một thời gian hạn chế. Bởi vậy, chúng ta cần phải được tiếp tế muối thường xuyên qua việc uống nước và ăn các thực phẩm đa dạng. Như vậy vẫn chưa đủ, nhiều khi chúng ta còn cần phải dùng thêm các thuốc bổ để bổ sung.
Người ta chia những nguyên tố có trong muối khoáng thành hai loại : một loại cơ thể cần nhiều và một loại cơ thể chỉ cần một lượng rất ít. Loại thứ hai được gọi là những nguyên tố vi lượng.
Cơ thể con người cần nhiều những nguyên tố sau (có trong các muối) :
Loại muối
Số gam nguyên tố cần cho 70 kg cơ thể
Canxi (Ca) 1.050
Phốt pho (P) 700
Lưu huỳnh (S) 175
Kali (K) 140
Natri (Na) 105
Clo (Cl) 105
Manhê (Mg) 35
Những nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể con người (có trong các muối)
Loại muối
Số gam nguyên tố cần cho 70 kg cơ thể
Sắt (Fe) 3,35
Kẽm (Zn) 3,20
Silic (Si) 0,3
Đồng (Cu) 0,1
Mangan (Mn) 0,0025
Nicken (Ni) <0,001
Cobalt (Co) <0,001
Iốt (I) <0,001
Selenium (Se) <0,001
Fluo (F) <0,001
Crôm (Cr) <0,001
Molypden (Mo) <0,001
Thiếc (Sn) <0,001
Vanadium (V) <0,001
Bốn nguyên tố vi lượng được coi là cơ bản gồm sắt, kẽm, silic và đồng (Fe, Zn, Si, Cu) chiếm 99% khối lượng các nguyên tố vi lượng trong cơ thể.