Month: April 2016

Những vấn đề về thực phẩm

Hiện nay, có khoảng gần 20 loại dược phẩm có chứa choline thường được bác sĩ chỉ định để chữa trị các chứng bệnh dư mỡ, rối loạn bộ phận tiêu hóa như đau dạ dày (bao tử), buồn nôn hoặc nôn ói.
Vitamin P hay Flavoncides, phần lớn là những sắc tố trong thực vật, góp phần làm cho các rau, quả thêm hấp dẫn bởi vẻ muôn màu, muôn sắc của chúng. Năm 1930, nhà hóa học Hungari Szent Gyorgyi la người đầu tiên có nhận xét về tác dụng của các sắc tố này, cho biết chất nước paprika (tên một loại ớt) và nước ép của quả chanh, chứa vitamin C và chất màu của 2 loại quả này có khả năng chữa được một số bệnh xuất huyết nhanh và hiệu quả hơn là chỉ sử dụng đơn thuần vitamin C. Như vậy có nghĩa là các sắc tố của những trái cây cũng có tác dụng riêng.
Thời gian gần đây, năm 1980, các nhà khoa học lại nêu lên những tính chất chống oxy hóa đặc biệt của các sắc tố thực vật có tác dụng rất tốt trong việc phòng chống các bệnh tim mạch và bệnh ung thư và chia các flavonoid thành 3 loại :
Loại 4-oxo-flavonoit là những sắc tố màu vàng tươi hoặc vàng ngà, thường có ở những phần thực vật lúc còn non, có nhiều ở phần thực vật phía trên mặt đất như lá rau, hạt đậu, ít khi có ở phần củ (trừ củ hành). Ở trái cây, các sắc tố thường có nhiều ở phần vỏ, nhất là họ cam, chanh, bưởi, quit,… (chất flavonoid trong hạt đậu nành có tác dụng rất tốt trong việc phòng chống bệnh ung thư vú).
Loại anthocyanine, gồm các sắc tố có màu đỏ – tím hoặc xanh, có trong nhiều lá, hoa và quả như quả lý, quả việt quất, quả dâu tằm, quả nho đen… Loại flavonoid này cũng có trong lá cải hoa và củ cải.
Loại tanin, có trong nhiều loại rau, trong quả phúc bồn tử, trong lá và cành cây chè (trà), trong rượu vang. Phân tử tanin dài nhưng được chất dịch ở ruột chuyển biến thành những phần tử nhỏ để ruột hấp thụ được ngay.
Nhiều nhà khoa học đã xác định những chất flavonoid đều có tác dụng rất tốt cho hệ tim mạch, phòng chống được bệnh ung thư, bảo vệ các thành mạch và các mao mạch. Bởi vậy hiện nay, để giữ gìn sức khỏe và phòng chống bệnh, rất nhiều người đã theo chế độ ăn nhiều rau, giảm thịt, mỡ và thay chất béo động vật bằng các loại dầu thực vật.
Phần thứ hai
Các chất muối khoáng
Các chất muối khoáng
Những vấn đề về thực phẩm
Những vấn đề về nước
Sử dụng thuốc bổ có vitamin và các nguyên tố vi lượng
Bảy nguyên tố có nhiều trong cơ thể

Suy giảm hệ miễn nhiễm

Triệu chứng rõ nhất ở người thiếu vitamin F là da khô. Việc dùng các loại kem dưỡng da để bôi không chữa trị được vì các màng tế bào trong cơ thể đều bị thiếu các axit béo cơ bản, cần phải có chế độ ăn giàu về các chất béo dễ tiêu như cá. Tuy vậy, tới lúc này thì các phương pháp chữa trị cũng thường ít có hiệu quả vì người da khô đã có thể có nhiều mầm bệnh như : dư mỡ thịt, tiểu đường, stress, dị ứng, suy giảm hệ miễn nhiễm, khả năng chuyển hóa các chất béo hấp thụ thành các chất béo khác của cơ thể bị suy giảm vì tuổi cao v.v…
Bởi vậy, cần phải phòng bệnh là chính và chú ý tới việc ăn uống ngay từ khi còn trẻ và sung sức bằng cách hạn chế việc ăn nhiều thịt mỡ gia súc cùng các sản phẩm của sữa (bơ, kem, pho mát…) và tăng cường ăn thịt cá, rau quả và dầu thực vật.
Vitamin I hay Inositol, có trong một số rau, quả có tinh dầu, trong hạt đậu, trong nhân hạt quả hạnh đào (hạnh nhân). Trong cơ thể, inositol tham gia và sự chuyển hóa các chất béo, tạo ra các chất béo trong thành phần có phốt pho của các màng tế bào. Inositol còn có tác dụng ngăn không để chất béo đóng cục trong mạch.
Cơ thể của mọi người bình thường đều có đủ vitamin I và chúng được cung cấp từ những bữa ăn. Lượng inositol chỉ bị giảm đi ở những người bị bệnh tiểu đường và dễ dàng trở lại mức bình thường sau khi được uống thuốc có inositol.
Trong phòng thí nghiệm, khi cố tình làm cho những con vật nuôi bị thiếu inositol, người ta sẽ gây ra cho chúng một số triệu chứng như là : rụng lông, viêm da, eczema, suy nhược, mỡ đóng cặn trong mạch.
Inositol còn được các bác sĩ chỉ định cho các trẻ sinh thiếu tháng dùng để tránh bị rối loan về đường hô hấp và một số chứng bệnh về mắt làm mắt mờ dẫn tới sự mù lòa.
Vitamin J hay Choline, có trong các thực phẩm có mỡ, trong lòng đỏ trứng, gan, đậu tương (đậu nành), mầm lúa. Trong cơ thể người, choline còn được tổng hợp từ một axit amin là chất methionine. Bình thường, không ai bị thiếu choline.
Các bác sĩ thường dùng choline với liều lượng cao nhằm để tăng cường trí nhớ của người già, hoặc để dùng phối hợp với các thuốc trị bệnh Alzheimer. Trong việc sử dụng choline để bổ dưỡng thần kinh, các bác sĩ thường dùng thêm vitamin B1.
Các nhà chuyên môn cho rằng cơ thể bị thiếu choline có thể sẽ dẫn tới các rối loạn về gan.

Axit linôlenic có trong dầu hoa hướng dương

Vitamin B11 hay vitamin O, có trong men bia và các mô tế bào động vật, còn được gọi là vitamin gây ngon miệng vì có tác dụng kích thích dịch vị ở dạ dày và tụy.
Cơ thể thiếu chất này có thể dẫn tới hiện tượng các mô tế bào bị thiếu oxy, sự hấp thụ chất khi tiêu hóa không tốt và bị teo cơ.
Vitamin B13 hay axit orotic, có trong nước sữa (phần nước của sữa sau khi sữa kết tủa), được dùng trong việc tổng hợp của một số muối kim loại. Axit orotic được ghi trong bảng các hóa chất loại C ở Pháp, gồm các chất có tính độc, có khả năng gây nguy hại cho sức khỏe.
Vitamin B15 hay axit pangamic, có trong một số chất như dimetylglycine, có trong một số chất như dimetylglycine, axit glucono dimethylamino-axetic, có tác dụng kích thích khả năng thi đấu dẻo dai của các vận động viên, làm tăng sự hô hấp và các hoạt động về tim mạch và thần kinh.
Vitamin B17 hay laetrile, có trong hạt quả mơ, quả đào, quả mận, quả xơ – ri, hạt táo. Chất này độc vì chứa xyanua, và có mặt trong một số thuốc cổ truyền dùng để chữa trị một số bệnh ung thư của người Mễ-tây-cơ (Mexico). Họ cũng tin rằng ăn nhiều mơ sẽ tránh được bệnh ung thư. Sự thật, phần thịt của quả mơ không có chất laetrile mà chỉ giầu chất tiền vitamin A là beta-caroten.
Vitamin F, gồm 2 axit béo loại không no là linôlênic và anpha-linôlênic. Những axit này được coi là những axit béo chủ yếu vì có thể chuyển thành các axit béo khác trong cơ thể động vật. Chữ F do từ Fatty acid (axit béo) mà ra.
Công dụng của các axit này được biết rõ vào năm 1992, do được dùng để chữa trị bệnh chậm lớn, da sần sùi, tổn thương ở thận và chứng vô sinh ở những con chuột được nuôi trong phòng thí nghiệm với chế độ ăn không có chất béo.
Axit linôlenic có trong dầu hoa hướng dương, dầu ngô (bắp), trong hạt nho. Axít anpha-linôlenic có trong dầu đậu nành, dầu dừa.
Trong cơ thể động vật, những axit này dự phần tạo thành các chất béo khác mà cơ quan tiêu hóa của người dễ hấp thụ.
Các thực phẩm có những chất béo no (có cấu tạo hóa học gồm mạch cácbon có những nối đơn) như các loại thịt mỡ, bơ, pho mát, dầu lạc (đậu phộng)… có tác dụng làm khả năng miễn nhiễm của cơ thể bị suy yếu, dễ gây dị ứng, thu hẹp các thành mạch, gây cặn máu dẫn tới bệnh cao huyết áp và các bệnh về tim mạch.
Những thực phẩm có chất béo không no (có liên kết kép trong mạch C) như thịt, mỡ, cá, ít gây ra những hiện tượng trên và còn làm cho máu dễ lưu thông trong mạch.

Adenine có trong men bia

Do bị bệnh đường ruột, uống thuốc tẩy, suy gan, suy tụy (mật và chất dịch của tụy có vai trò kích thích việc hấp thụ vitamin K của cơ thể).
Do bị ngộ độc hoặc dùng quá nhiều các thuốc có tính chất kháng vitamin K (như thuốc chống co giật, thuốc có chất sắt hoặc dư vitamin A).
Vitamin K1 ít gây ngộ độc và người ta có thể dùng liều cao gấp 50 lần nhu cầu mà vẫn không gặp sự cố gì. Tuy nhiên, việc tiêm (chích) vitamin K vào bắp hoặc mạch máu có thể gây ra những phản ứng phụ.
Riêng đối với trẻ sơ sinh, người ta thường dùng thuốc uống hoặc tiêm cho mẹ trong tháng cuối của thai kỳ, trước khi sinh. Vitamin K3 dùng liều cao có thể gây ngộ độc đối với trẻ sơ sinh.
Lượng vitamin K (ug) thường được dùng cho các đối tượng, trong ngày, khi cần (ug/ngày) :
Trẻ sơ sinh 12
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 15 – 30
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 20 – 60
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 50 – 100
Từ 12 tuổi trở lên 50 – 100
Người lớn, phụ nữ có mang, người cao tuổi 70 – 140
Những vitamin không phải là vitamin
Trong giai đoạn mới phát minh ra các vitamin, một số nhà khoa học đã lạm dụng tên gọi này đặt tên cho tất cả các chất mới được biết theo thứ tự thời gian chúng được phát hiện. Đó là trường hợp các vitamin B4, B10, B11, B13, B15, B17, F, J, P.
Về sau, do nhận thấy những chất này không phải là amin hoặc chỉ là chất amin đơn thuần, và cũng không có tác dụng quan trọng đối với sự sống, nên dần dần chúng ít được nhắc tới. (Chúng ta đã biết từ vitamin gồm 2 phần : vita có nghĩa là sự sống + amin).
Tuy có sự ngô nhận, nhưng sự việc đã đi vào lịch sử nên những chất này vẫn có mặt trong một số sách hoặc một số bảng ghi về các vitamin. Đó là 10 chất sau :
Vitain B4 hay adenine, còn được gọi là “vitamin của bạch cầu” vì có vai trò kích thích sự tạo thành các bạch cầu.
Adenine có trong men bia, gan, mầm lúa, trong thịt và cá.
Vitamin B10 hay axit paraaminobenzoic, còn được gọi là vitamin H1 hoặc H2, có trong men bia, các hạt ngũ cốc, mầm lúa, rau.
Axit paraaminobezoic hiện còn được dùng để chống nắng vì có vai trò tạo thành chất melanin (sắc tố của da và tóc). Tuy nhiên, các nhà chuyên môn về da thường ít dùng chất này vì tính chất dễ gây dị ứng cho da và kháng sunfamit cùng các thuốc kháng sinh khác của nó. Họ có xu hướng thay thế nó bằng cách dùng beta-caroten phối hợp với vitamin C hoặc dùng vitamin C phối hợp với vitamin E.

Triệu chứng thiếu, thừa vitamin K

Do đó năm 1943, cả Dam và Doisy đều đoạt giải Nobel về y học, mặc dù mãi tới năm 1950, người ta mới biết hết được công dụng của vitamin K đối với sự hình thành chất prothrombine trong máu, một nhân tố có tác dụng làm máu đông đặc lại, làm cho các vết thương ngưng chảy máu.
Nhu cầu về vitamin K của cơ thể người
Bình thường, cơ thể người chỉ cần một lượng nhỏ vitamin K mà các bữa ăn hàng ngày cũng thừa khả năng cung cấp. Một người lớn chỉ cần 45 ug/ngày trong khi các thực phẩm trong một bữa ăn đã có thể cung cấp cho chúng ta từ 300 tới 400 ug vitamin K.
Bởi vậy, những trường hợp bị thiếu vitamin K đều có những nguyên nhân rõ rang ở những người :
Không hấp thụ được thức ăn
Bị bệnh về ruột hoặc bộ phận tiêu hóa.
Có bệnh phải dùng thuốc kháng ssinh trong thời gian dài làm cho các vi khuẩn ở ruột bị chết.
Bị ngộ độc.
Nguồn vitamin K trong tự nhiên
Cơ thể con người được cung cấp vitamin K từ 2 nguồn :
Từ thực phẩm : thịt và rau, quả.
Các vi khuẩn ở ruột non và đoạn cưới đại tràng (kết tràng) có khả năng tổng hợp được vitamin K2 đáp ứng được từ 50 – 70% nhu cầu cơ thể.
Lương vitamin K được tích lũy ở gan, nếu không được tiếp nhận thêm hàng ngày cũng vẫn đủ dùng cho cơ thể trong vòng 8 ngày.
Nguồn vitamin K trong tự nhiên
Loại thực phẩm
Lượng vit. K (ug/100g thực phẩm)
Trái cây (quả) 5 – 20
Đậu Hà Lan 10 – 50
Khoai tây 20 – 80
Trứng 20 – 50
Thịt, gan 20 – 150
Cải hoa (súp lơ) 60 – 300
Rau xà lách 80 – 200
Bắp cải, su su 200 – 600
Cây mùi tây (ngò tây) 600 – 900
Dưa bắp cải 2000 – 3000
Những người bị bệnh do thiếu vitamin K thường có các triệu chứng như sau : chảy máu mũi, nước tiểu, phân có máu. Hiện tượng này kéo dài lâu hay mau tùy thuộc theo bệnh nặng hay nhẹ, bác sĩ sẽ xác định bệnh bằng việc thử máu để biết tỷ lệ prothrombine trong máu. Bình thường trong huyết thanh tỷ lệ này phải bằng 70% hoặc cao hơn.
Hiện tượng cơ thể thiếu vitamin K có nhiều nguyên nhân :
Do kén an lại phải uống thuốc kháng sinh trong thời gian dài làm cho các vi khuẩn ở ruột bị tiêu diệt.
Trẻ sơ sinh, trẻ sinh bị thiếu tháng bị thiếu vitamin K từ trong bụng mẹ, ngày thứ 2 hoặc thứ 3 sau khi sinh đã có thể bị chảy máu ở đường tiêu hóa, có khi bị dẫn tới xuất huyết ở não rất trầm trọng.

Trong quá trình nghiên cứu sự chuyển hóa của cholesterol

Phòng bệnh đau ngực, bệnh phổi, bệnh tim mạch, bệnh cao huyết áp và hiện tượng dư thừa cholesterol trong máu.
Phối hợp với dầu cá, vitamin E được dùng để phòng chống hiện tượng dư thừa mỡ trong máu, chống sự tắc nghẽn mạch, kể cá các mạch ở não do bị lão hóa.
Người bị viêm giác mạc, viêm mắt.
Phòng hiện tượng co quắp chân tay, đặc biệt đối với những người kháng thuốc chữa trị bệnh động kinh.
Chữa trị một số bệnh ngoài da như bệnh lupus.
Người phải dùng thuốc có chất sắt (Fe) (vì sắt là chất hỗ trợ cho sự oxy hóa, nên cần có vitamin E để chống lại hiện tượng này).
Dùng vitamin E quá liều lượng có hại hay không?
Vitamin E không gây ngộ độc, dù được dùng ở liều lượng cao, trong thời gian dài.
Tuy nhiên, vitamin E cũng làm cho máu khó đông. Bởi vậy, những người có bệnh dễ bị chảy máu, máu lâu đông, cơ thể kháng vitamin K, không nên dùng quá 200 U.I vitamin E trong ngày và cầnphải ngưng dùng vitamin E vài tuần trước khi phẫu thuật.
Vitamin K
Sinh tố K hay vitamin K là tên được các nhà khoa học đặt cho một nhóm gồm 3 loại dẫn xuất của chất naphtoquinone. Chúng đều có đặc tính làm ngưng hiện tượng chảy máu (cầm máu).
Người ta phân biệt:
Vitamin K1, có nguồn gốc từ thực vật, còn có tên là phytomedianone hay phylloquinone.
Vitamin K2, có trong động vật và một số vi khuẩn, còn có tên là menaquinone.
Vitamin K3 và một số vitamin K khác được điểu chế bằng phương pháp tổng hợp, Vitamin K3 còn có tên là menadione, vit. K4 là menadiol;…
Vitamin K được 2 nhà sinh – hóa học người Đan Mạch là H. Dam và Schonheyder phát hiện ra một cách tình cờ, vào năm 1929. Trong quá trình nghiên cứu sự chuyển hóa của cholesterol, hai nhà khoa học này đã nhận thấy rằng những con gà được nuôi trong phòng thí nghiệm với một chế độ ăn hạn chế chất béo và cholesterol thường hay bị mắc một số loại bệnh gây xuất huyết, khó cầm máu. H.Dam nghĩ rằng nguyên nhân có thể do chúng bị thiếu một loại vitamin K (do từ Koagulation có nghĩa là sự đông lại) cần cho sự ngừng chảy máu. Về sau, Schonheyder đã nhận xét rằng sở dĩ máu của những con gà bệnh không đông lại được là do bị thiếu chất prothrombine.
Năm 1936, H. Dam đã chiết được một chất sánh như dầu từ cỏ linh lăng, một thứ cỏ đã được nhà sinh vật học Almquist dùng để chữa trị bệnh chảy máu của gà.
Năm 1939, Doisy chiết được chất này từ cá, đồng thời cũng lập được công thức cấu tạo cũa chất này.

Những tế bào thần kinh đều được cấu tạo bởi các chất béo nên cần có vitamin E

Năm 1993, trong một cuộc hội thảo bàn về tác hại của các “gốc tự do” ở Valence (Tây Ban Nha), các nhà chuyên môn đã chỉ ra rằng trong các môn chơi thể thao, các vận động viên càng mất nhiều sức, càng phải dùng thêm nhiều vitamin E. Những vận động viên leo núi cao có khi cần phải dùng tới 400 UI/ngày. Để đề phòng bệnh ung thư miệng và cổ họng, cần dùng 100 UI/ngày.
Nói chung, hầu hết mọi người đều bị thiếu vitamin E vì nguồn lương thực không thể cung cấp đủ.
Nguồn vitamin E trong tự nhiên
Thực phẩm các loại
Số mg Vit. E trong 1 kg thực phẩm
Chất béo ở mầm lúa 1330
Bơ margarin 280
Dầu cọ 256
Dầu ngô (bắp) 113
Dầu đậu nành 101
Bơ 15 – 20
Ngũ cốc 10 – 50
Thịt đỏ (thịt bò, ngựa) 5 – 16
Cá 6 – 10
Trứng 7 – 16
Rau xanh 1 – 2
Trong tự nhiên, những thực phẩm có dầu hoặc mỡ đều có chứa vitamin E để giữ cho các màng tế bào khỏi bị hủy hoại và biến chất.
Việc sử dụng vitamin E
Do tính chất không tan trong nước nên vitamin E khó tới được phôi thai qua nhau thai. Bởi vậy, các trẻ sơ sinh đều có tỷ lệ vitamin E rất thấp trong máu, khiến cho các hồng cầu dễ bị vỡ khi tiếp xúc trực tiếp lần đầu tiên với oxy ở phổi. Nguy cơ này ở các trẻ sơ sinh thiếu tháng còn cao hơn nữa. Bởi vậy, các bác sĩ thường chỉ định dùng vitamin E cho trẻ em để đề phòng hoặc chữa trị các chứng bệnh : thiếu máu, chảy máu não, tắc nghẽn mạch, v.v…
Những tế bào thần kinh đều được cấu tạo bởi các chất béo nên cần có vitamin E để bảo vệ. Bởi vậy, trẻ em đang ở độ tuổi phát triển cần có thêm vitamin E để tránh những rắc rối về hệ thần kinh. Những người cao tuổi càng cần phải được tiếp thêm vitamin E vì việc thiếu vitamin này có thể dẫn tới các bệnh về não như bệnh Parkinson và Alzheimer.
Ngoài ra, vitamin E thường được bác sĩ chỉ định cho những trường hợp sau :
Người chơi thể thaom cần phục hổi sức sau những cố gắng thi đấu làm tiêu hao sức lực.
Người dễ bị nhiễm bệnh về tai – mũi – họng khi thời tiết thay đổi.
Đề phòng sự tái phát cũa các chứng bệnh tiểu đường, gan, thận.
Người hay bị dị ứng. Trường hợp có mụn ở mặt cần phối hợp với vitamin A (B – carotene) và kẽm (Zn).
Các trường hợp bị bỏng
Người nghiện thuốc lá, rượu
Người làm việc ở môi trường bị ô nhiễm
Người đang chữa trị hoặc cần phòng bệnh ung thư, đang phải chiếu X-quang hoặc chữa trị bệnh bằng hóa chất.

Vai trò cứu tinh của vitamin E đối với các tế bào

Có nhiều sự việc xảy ra ở bên ngoài cơ thể hoặc ngay bên trong cơ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho các gốc tự do phát triển, như : sự ô nhiễm của môi trường sống và không khí, ảnh hưởng của ánh nắng, của rượu, thuốc lá, một số dược phẩm, các loại tia và sóng của máy chụp X-quang, scanner, sự oxy hóa dang dở của các chất đường, mỡ trong quá trình tiêu hóa, hiện tượng viêm nhiễm của các tế bào v.v…
Mỗi khi có một tế bào của cơ thể bị các gốc tự do sáp lại gần, các phân tử vitamin E, vitamin A (beta-caroten), vitamin C vội vã di chuyển tới và xen ngay vào giữa để can thiệp, giống hệt như những vệ sĩ cảm tử, sẵn sàng mang cả tính mệnh mình ra đối phó với sự hiểm nguy. Phần lớn các phân tử vitamin này đều bị hy sinh cùng địch thủ để gìn giữ sự an toàn cho các tế bào mà chúng bảo vệ và bị thải ra ngoài theo phân. Ngoài vai trò là cứu tinh của các tế bào, các phân tử vitamin E còn có nhiệm vụ là kiểm soát sự hoạt động của các tiểu cầu máu, ngăn chặn hiện tượng xơ vữa động mạch và sự tiến triển của các tế bào ung thư.
Nhu cầu về vitamin E của cơ thể người
Nhu cầu được bổ sung thêm vitamin E của mỗi người phụ thuộc vào giới tính, độ tuổi và chất lượng thực phẩm đã tiêu thụ hàng ngày. Bảng sau đây là lượng vitamin E tính ra đơn vị quốc tế (UI) thường được các bác sĩ chỉ định dùng cho các đối tượng (1 UI = 1mg vitamin E tổng hợp) :
Trẻ sơ sinh 4 UI/ngày
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 7
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 10
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 15
Người lớn, phụ nữ mang thai hoặc cho con bú 18
Tuy nhiên, đối với những người đang trị bệnh, thì lượng vitamin E cần dùng thêm phải cao hơn. Tại trường đại học Harvard (Mỹ), trong 2 đợt thí nghiệm dùng vitamin E phòng chống bệnh tim mạch, nhiều bác sĩ và phụ tá đã uống trên 100 UI vitamin E mỗi ngày, trong 2 năm liền để chứng minh rằng :
Càng dùng vitamin E ở liều cao, càng phòng tránh được bệnh có hiệu quả.
Trong việc phòng tránh bệnh, vitamin E cần được phối hợp với một số chất khác như : vitamin C, beta-caroten (vit. A) cùng các nguyên tố vi lượng như selenium (se), magie (Mg).
Những người bị huyết áp cao, có tỷ lệ cholesterol trong máu cao, bị bệnh tiểu đường, nghiện thuốc lá,… đều cần dùng vitamin E liều cao, tới 800 UI/ngày mà không sợ bị phản ứng do quá liều lượng.

Tác dụng của vitamin E với cơ thể người

Vitamin E là tên chung của một dãy 8 phân tử tocopherol có tính chất chung giống nhau, được gọi riêng là anpha tocopherol, beta tocopherol, gamma, delta tocopherol,… hoặc E 306, 307, 308, 309, v.v…. Chúng đều là những chất sánh như dầu, màu vàng nhạt, không tan trong nước nhưng dễ tan trong các chất béo và một số dung môi khác như ete, axêton, clorofoóc, rượu.
Được gọi là chất chống oxy hóa, nhưng chính vitamin E lại dễ bị oxy hủy hoại và chỉ bền với nhiệt ở môi trường thiếu oxy và ánh sáng. Bởi vậy, cần bảo quản vitamin E trong hộp kín, hoặc các chai lọ màu đục. Những viên vitamin E dược phẩm, thuộc loại anpha tocopherol (a-tocopherol).
Lượng tocopherol có trong cơ thể nhiều hay ít tùy ở từng cơ quan, từng loại tế bào. Sau đây là một số thí dụ về lượng tocopherol, tính ra microgam, có trong 1 g mô tế bào :
Loại mô tế bào ug/g
Mô mỡ 150
Mô tế bào thượng thận 132
Tinh hoàn 40
Tuyến yên 40
Cơ bắp 19
Gan 13
Tính chống oxy hóa của vitamin E
Trong số các tocopherol thì anpha tocopherol có tính chống oxy hóa mạnh nhất và có khả năng can thiệp hoặc làm ngưng các phản ứng oxy hóa dây chuyền do các “gốc tự do” gây ra trong cơ thể.
Từ lâu, nhiều nhà khoa hôc đã đề ra giả thiết về “gốc tự do”. Đây có thể là một loại tế bào hay một phân tử đặc biệt trong cơ thể, có cấu tạo giống kiểu nguyên tử hydro, với một điện tử (electron) riêng lẻ, luôn muốn kết đôi. Bởi vậy, chúng thường chiếm những điện tử (e) của các tế bào khác, đăc biệt là e của phân tử axit béo có ở màng các tế bào, như các tế bào mỡ trong máu, các phân tử protein, vitamin, axit thơm của gien, bến các phân tử này thành những gốc tự do mới, đi chiếm lại điện tử của các tế bào khác, gây ra những phản ứng lão hóa dây chuyền. Mỗi ngày, những gien trong mỗi tế bào của cơ thể chúng ta có thể đã bị các gốc tự do này tấn công tới 10000 lần.
Nếu như những vụ tấn công đó làm thương tổn các gien có nhiệm vụ nhân bản trong các tế bào thì sẽ gây ra bệnh ung thư.
Nếu các phân tử mỡ di chuyển trong máu bị tấn công thì có thể có hiện tượng xơ vữa động mạch.
Khi các tế bào não bị tấn công, sẽ có thể là sự khởi đầu của bệnh Alzheimer, hoặc bệnh Parkinson.
Nếu tế bào của võng mạc mắt bị tấn công, người bệnh sẽ nhìn không rõ hoặc bị mù v.v….

Phụ nữ có mang có thể bị sẩy thai

Người bị ngộ độc vitamin D có các triệu chứng : chán ăn, buồn nôn, sút cân, cơ thể mất nước, đi tiểu nhiều, huyết áp cao. Trường hợp nặng do sự ngộ độc kéo dài, thận, phổi và hệ thống tim mạch có thể bị viêm nhiễm do có cặn muối canxi. Phụ nữ có mang có thể bị sẩy thai, hoặc thai bị các bệnh do nguyên nhân dư thừa chất canxi (dị dạng mặt và hệ thống tim mạch)…
Bởi vậy, các bác sĩ thường dùng vitamin D một cách thận trọng cho các đối tượng như :
Phụ nữ có mang ở cuối thai kỳ (đã gần tới tháng sinh con).
Phụ nữ đã qua thời kỳ mãn kinh, đàn ông từ 65 tuổi trở đi, cần được tăng cường thêm canxi để tránh hiện tượng xương yếu, dễ gãy.
Nói chung, nên tránh việc dùng vitamin D ở liều cao. Tốt nhất là khuyên bệnh nhân phơi mặt và tay ra ánh nắng 15 phút mỗi ngày. Đối với người bình thường thì như vậy cũng đủ để da chuyển hóa sterol thành một lượng vitamin D đủ dùng cho cơ thể.
Sau đây là bảng ghi liều lượng vitamin D tính ra microgam (ug) dùng mỗi ngày cho các đối tượng có nhu cầu (ug/ngày) :
Trẻ sơ sinh 10
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 10 – 15
Trẻ em trên 4 tuổi 10
Người lớn 10
Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú 15
Vitamin E (hay tocophérol)
Vào năm 1922, hai nhà sinh vật học H.Evans và K.Bishop nhận xét thấy các con chuột cái trong phòng thí nghiệm nếu chỉ được nuôi bằng các vitamin A, B, C, D thì không thể sinh con, vì các thai chuột đều bị chết trong bụng mẹ. Đa số các chuột đực cũng lâm vào hoàn cảnh vô sinh vì bị teo tinh hoàn. Bốn năm sau (1926), người ta đã tìm ra cách chữa trị cho lũ chuột bằng cách cho chúng ăn thêm những mầm lúa mì.
Năm 1936, Evans và Emerson cô lập được chất bổ lấy từ mầm lúa, đã có tác dụng chữa trị cho lũ chuột khỏi chứng vô sinh và đặt tên là vitamin E. Hai năm sau (1938) nhà sinh – hóa học P.Karrer đã điều chế được vitamin E bằng phương pháp tổng hợp. Quá trình phát hiện ra vitamin E làm cho nhiều người nghĩ rằng chất này chỉ có tác dụng trong vấn đề sinh sản. Nhưng càng về sau các nhà khoa học càng tìm thấy nhiều tác dụng khác của vitamin E trong việc chữa trị các chấn thương ở não, ở hệ cơ và ở gan. Ngoài ra, vitamin E còn có khả năng chống oxy hóa, nên có thể giúp các tế vào chống lại sự lão hóa, đây là tính chất nổi bật nhất của vitamin E đối với cơ thể con người.