Month: May 2016

Tác hại của Cd đối với cơ thể

Cadmium (Cd)
“cát-mi” hay cadmium là một kim loại mềm, màu lơ nhạt, có ký hiệu Cd, thường được dùng trong công nghiệp để chế tạo hợp kim. Đối với cơ thể người thì đây là một chất độc.
Trước đây có nhiều phụ nữ tại ngôi làng Jintsu bên bờ một dòng sông ở nước Nhật, bị mắc bệnh rất bí hiểm : cứ cử động hay đi là thấy đau, khi bẹnh nặng, đa số bệnh nhân bị liệt tay chân, gãy xương và bị tử vong. Các bác sĩ Nhật cho rằng dân làng này bị ngộ độc do vùng thượng nguồn mà dòng sông chảy ra, có mỏ cadmium. Quả nhiên, việc xét nghiệm cho thấy nước tiểu của những bệnh nhân này có nồng độ Cd rất cao. Đây là một câu chuyện điển hình về tính độc của Cd.
Trong cuộc sống hiện tại, mọi người đều có thể bị ngộ độc ít nhiều về Cd bởi khói thuốc lá (đối với cả người hút và người hít thở không khí có khói thuốc), bởi không khí bị ô nhiễm do bụi, khói các nhà máy, sự phân hủy của các vật thối rữa, do ăn các thực phẩm như thịt, tôm, cua, cá, v.v…
Trong cơ thể, Cd dễ chiếm vị trí của kẽm (Zn) trong cấu tạo các hợp chất hữu cơ, khiến cho sự chuyển hóa chất và sự phát triển của cơ thể (nhất là cơ thể của trẻ em và của cả thai nhi còn trong bụng mẹ) bị ức chế. Nếu nồng độ Cd trong máu cao hoặc sự ngộ độc Cd xảy ra trong thời gian dài, Cd sẽ tích tụ lại ở thận, gây ra các bệnh về thận và bệnh cao huyết áp.
Nếu cơ thể có đủ chất magiê (mg), chất này sẽ ngăn không cho Cd xâm nhập vào các tế bào, để cho kẽm (Zn) tìm cách dẫn Cd về thận và thải ra ngoài theo nước tiểu.
Để đề phòng sự nhiễm độc bởi Cd, chúng ta cần :
Không hút thuốc lá, tránh hít thở khói thuốc do người khác hút.
Chú ý ăn các thực phẩm đa dạng để cung cấp cho cơ thể đầy đủ magiê và kẽm (có trong nước khoáng, ngũ cốc, rau quả có chất dầu).
Các chất canxi (Ca), sêlen (Se) và vitamin C đều có tác dụng hạn chế sự hấp thụ Cd vào cơ thể và tăng cường việc thải Cd ra ngoài.
Cần chú ý : quả thận (bầu dục) là thực phẩm có chứa nhiều Cd.
Thủy ngân (Hg)
Thủy ngân là một kim loại màu trắng bạc, tên Latinh là Mercurius, có ký hiệu Hg, đứng hàng đầu trong số các kim loại có tính độc và cũng là kim loại duy nhất ở thể lỏng. Hg chỉ đông cứng ở -39oC.

Vai trò của nhôm trong cơ thể người

Nhiều đồ dùng trong nhà, nhất là những đồ dùng để đun nấu, những hộp đựng thực phẩm, giấy bọc bánh, kẹo… đều làm bằng nhôm. Sự có mặt của nhôm ở mọi nơi trong cuộc sống, có thể là một nguyên nhân của sự thừa Al trong cơ thể, rất có hại cho sức khỏe của chúng ta.
Lượng nhôm sinh học trong cơ thể con người vào khoảng từ 30 – 50 mg. Ruột hấp thụ Al từ thức ăn vào khoảng 3 – 5 mg/ngày. Nhôm còn có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, không khí chứa bụi Al và hợp chất từ 1 – 100 ug/m3. Nồng độ Al trong máu rất thấp, thường dưới 10 u/l, 80% lượng Al này được gắn với các phân tử protein, anbumin hoặc hợp chất sắt trong máu, 20% còn lại ở thể Al tự do. Nhưng nguồn Al chủ yếu vào cơ thể người chính là nước, kể cả nước máy.
Cũng giống như sắt, đồng, mangan, thủy ngân và chì thì nhôm cũng có tác dụng làm cho các tế bào mau bị lão hóa (do Al hổ trợ cho sự oxy hóa), Al có thể thế chỗ các nguyên tử canxi trong xương làm cho xương có thể kém bền và dễ gẫy. Những người dùng thuốc thành phần có Al trong một thời gian dài có thể tạo điều kiện để cho Al tồn đọng nhiều ở các cơ quan nội tạng như tủy và xương, cơ bắp, thận, gan, tuyến giáp và não.
Tuy rẳng tác dụng của chất Al đối với hoạt động của các cơ quan trong cơ thể vẫn chưa xác định được rõ ràng, nhưng nhiều nhà khoa học vẫn thiên về sự nhận định rằng Al có hại cho não. Một công trình nghiên cứu về nước uống ở Anh đã cho biết, những vùng mà có hàm lượng Al trong nước cao quá 110 ug/lít đều có số người mắc bệnh Alzheimer cao gấp rưỡi nơi khác. Não của những người bị bệnh lú lẫn này thường có những điểm có nhôm tích tụ. Cũng bởi vậy, mà Hội đồng về sức khỏe ở châu Ạu đã ra đời và khuyến cáo với mọi quốc gia, nên hạn chế hàm lượng Al trong nước uống của dân chúng, sao cho không vượt quá 50 ug/l dù rằng cơ thể người có thể chấp nhân trong thời gian ngắn, nước có chứa Al tới 200 ug/l.
Cũng để tránh cho sự ngộ độc bởi nhôm, nhiều nhà khoa học còn có ý kiến rằng nên thay thế các dụng cụ bằng nhôm dùng để đun nấu thức ăn, bằng các nguyên liệu khác (như thủy tinh chịu nhiệt) và đổi việc bọc, gói bánh kẹo bằng giấy nhôm (thường được gọi là giấy bạc), bằng giấy tẩm chất chống thấm.

Hiện tượng cơ thể bị ngộ độc vì vanadi

V duy trì sự hoạt động đều đặn của các bộ máy bơm Na+ và Ca++ ở màng tế bào, điều hòa số lượng cần thiết của các ion này ở bện trong và bên ngoài màng tế bào.
Người ta chưa gặp trường hợp bệnh nào do thiếu hoặc thừa V ở người. Tuy nhiên, người sống trong không khí bị ô nhiễm có thể có các biểu hiện bị ngộ độc V khiến cho phổi, màng nhầy ruột bị tổn hại. Trường hợp bị ngộ độc trong thời gian dài sẽ làm cho lưỡi bệnh nhân có màu xanh kèm theo những rối loạn ở gan, thận, hệ thần kinh và đôi khi còn làm cho người bệnh bị thiếu máu, tỷ lệ bạch huyết cầu trong máu giảm.
Giống như trường hợp các nguyên tố thiếc, arsenic (nhạn ngôn – As), người ta cũng chưa hiểu biết về vanadi một cách kỹ càng nên việc sử dụng thuốc có V còn rất hạn chế.
Bốn kim loại độc
Có những kim loại độc có tác dụng kìm hãm sự phát triển của cơ thể con người, cả về mặt tinh thần lẫn thể chất. Chúng có thể gây tác hại ngay từ những ngày đầu của phôi thai, là nguyên nhân của những rối loạn ở mọi cơ quan, đặc biệt ở hệ tim mạch, làm cho các tế bào dễ bị oxy hóa, con người mau già.
Những kim loại này có mặt trong không khí mà chúng ta thở, trong nước uống, trong các thực phẩm chúng ta ăn, trong các loại thuốc chúng ta dùng để chữa bệnh.
Người ta có thể xác định về lượng của các chất độc này bằng các phương pháp xét nghiệm máu, nước tiểu và tóc.
Đó là 4 kim loại : nhôm (Al), cadmium (Cd), thủy ngân (Hg) và chì (Pb).
Tính độc của chúng còn phụ thuộc vào sự có mặt của một số nguyên tố khác. Thí dụ : hiên tượng cơ thể thiếu magiê và kẽm làm cho khả năng gây độc của cadmium và chì tăng lên và tính độc của thủy ngân cũng như vậy, nếu không có sêlen kìm hãm.
Các kim loại này có trong cơ thể chúng ta chỉ vì chúng ta tiếp xúc với không khí hoặc ăn, uống những đồ uống và thực phẩm bị ô nhiễm, mà không vì nhu cầu của cơ thể như những nguyên tố vi lượng khác.
Nhôm (Al)
Nhôm có tên khoa học là Aluminium, được ký hiệu là Al. Tiếng “nhôm” của Việt Nam là phiên âm của phẩn đuôi “nium” mà ra. Nhôm là nguyên tố đứng thứ 3 về lượng trong thành phần vỏ trái đất (8,13%), đứng sau oxy và silic. Trong công nghiệp, Al là kim loại được trọng dụng vì tính nhẹ và dẫn nhiệt, điện tốt.

Nhu cầu về vanadi của cơ thể

Như hiện tượng ngứa lở ở cổ chân và bàn chân là do bệnh nhân có thói quen cọ vào chân chiếc ghế mạ kền mỗi khi ngồi làm việc hoặc đọc sách báo. Hiện tượng dị ứng thường xảy ra dễ dàng hơn nếu da có mồ hôi.
Nói chung, tất cả các vật dụng mạ kền chung quanh ta, từ chiếc áo khuy áo, cái kim, con dao, cái kéo, đồ dùng trong bếp, đồng tiền,… đều có thể gây rắc rối cho những người có làn da nhạy cảm hoặc coi nhẹ tác dụng độc của kền, vì những hạt bụi kền rất nhỏ, có thể dính kết với các phân tử protein của da để trở thành những chất kháng gien, phá hoại ngay tổ chức của da. Bởi vậy, chúng ta nên nhớ Ni cùng các hợp chất của Ni là những chất độc. Cần phải cảnh giác với những đồ vật mạ kền hay mạ crôm dù chúng có thể rất đẹp!
Vanadi (V)
Tên khoa học của kim loại là Vanadium, có ký hiệu là V.
Vanadi được phát hiện vào thế kỷ XIX và được sử dụng trong cộng nghiệp luyên kim, hóa học, quang học, chụp hình.
Trong cơ thể, V có rất ít dưới dạng ion của các muối, tập trung ở gan, xương và tóc. Việc chúng ta sử dụng các nhiên liệu như than và dầu mazút vẫn thường xuyên thải ra những lượng V đáng kể, làm cho không khí bị ô nhiễm. Ở thành phố và các khu công nghiệp, trung bình mỗi người có thể hít vào phổi mỗi ngày từ 0,05 – 4 ug Vanadi.
Các nhà khoa học dự đoán cơ thể người có khoảng 100 ug V. Con số này có thể tăng lên gấp đôi ở thành phố và các khu công nghiệp. Nếu không kể tới lượng V xâm nhập vào cơ thể do không khí bị ô nhiễm, thì nguồn V chính là thực phẩm. Gan bò, cá, hạt ngũ cốc, dầu thực vật, rau, các loại rễ củ như khoai, cà rốt … đều có chứa lượng V tương đối cao. Một số nấm có V, nhưng lại là nấm độc.
Các nhà khoa học chưa xác định được nhu cầu của cơ thể về V là bao nhiêu. Tuy nhiên, họ cũng xác nhận V có một số tác dụng có lợi cho hoạt động của cơ thể như :
Bổ sung lượng V cho bệnh nhân có thể làm giảm lượng cholesterol ở người trẻ, chứng tỏ V có khả năng chống lại các bệnh về tim mạch.
V ức chế những enzyme liên quan tới sự chuyển hóa đường trong máu nên có vai trò tương tự của insulin.
V lấp những chỗ trống Ca trong xương và răng nên có vai trò tương tự như P. Cơ thể thiếu V sẽ làm xương ngắn đi.

Hiện tượng dị ứng và ngộ độc niken

Niken (Ni)
Kền (niken) là phiên âm phần đuôi cũa kim loại mang tên Nickel, có ký hiệu là Ni. Nhiều tính chất của kim loại này còn ở trong vòng bí mật. Tuy nhiên, Ni và các muối của Ni đều được xác định là các chất độc.
Trong tự nhiên, kền thường được tìm thấy lẫn torng quặng sắt và đồng. Do tính chất khó bị oxy hóa nên Ni được dùng torng công nghiệp mạ để bảo vệ các kim loại dễ bị gỉ sét.
Các thực phẩm có nguồn gốc thực vật như lúa gạo, lúa mạch, chè (trà), cà phê, chứa nhiều Ni hơn thịt, sữa và các rau quả có dầu.
Vai trò của niken trong cơ thể
Cơ thể người có chừng 10 mg Ni, được phân phối ở đều khắp các loại tế bào, nhưng có nhiều hơn ở xương, răng, các tuyến thượng thận, phổi, não và da. Các cơ bắp, tinh hoàn, buồng trứng huầ như không có Ni. Người ta chưa xác định được nhu cầu hàng ngày về Ni của cơ thể người mà chỉ ước lượng từ 300 – 600 ug/ngày.
Dự đoán Ni có vai trò xuc tác cho một số phản ứng sinh học trong cơ thể liên quan tới các hoóc-môn có chức năng điều hòa hoạt động của chất prolactin đối với tuyến yên, tăng cường tác dụng của insulin, ức chế tác dụng làm tăng huyết áp và tăng lượng đường trong máu của chất adrenalin, tham gia tổng hợp chất sắc tố của da (melanine), chi phối sự hấp thụ chất sắt và can thiệp vào sự chuyển hóa các axít nucleic (ADN) chứa các thông tin cần thiết cho sự hoạt động của tế bào.
Những trường hợp cơ thể bị rối loạn do thiếu hoặc thừa Ni chưa được các nhà khoa học xác định rõ ràng vì người ta cũng chưa biết rõ nhu cầu của cơ thể người về Ni. Tuy nhiên, những phản ứng của cơ thể bị ngộ độc vì các chất muối của Ni thì đều dễ nhận thấy qua các biểu hiện như đi tiêu lỏng và bị nôn ói. So với khí độc oxýt cácbon (CO) thì chất Nickel cacbonyl còn độc gấp 100 lần, làm nhiễm độc phổi, não, gan, tuyến thượng thận và thận cùng với các triệu chứng đau bụng, sốt và bại liệt từng phần.
Ngoài ra, nhũng vụ ngộ độc nhẹ vì Ni có thể xảy ra hàng ngày ở khắp nơi do nạn nhân tiếp xúc với các đồ dùng bình thường trong sinh hoạt. Các móc áo nịt, đôi bông tai, chiếc vòng cổ, dây đồng hồ đeo tay… được mạ kền đều có thể gây dị ứng da. Đôi khi, có những trường hợp rất đơn giản nhưng lại khiến cho bác sĩ phải suy nghĩ mãi mới tìm ra nguyên nhân.

Vai trò của niken trong cơ thể

Niken (Ni)
Kền (niken) là phiên âm phần đuôi của kim loại mang tên Nickel, có ký hiệu là Ni. Nhiều tính chất của kim loại này còn ở trong vòng bí mật. Tuy nhiên, Ni và các muối của Ni đều được xác định là các chất độc.
Trong tự nhiên, kền thường được tìm thấy lẫn torng quặng sắt và đồng. Do tính chất khó bị oxy hóa nên Ni được dùng torng công nghiệp mạ để bảo vệ các kim loại dễ bị gỉ sét.
Các thực phẩm có nguồn gốc thực vật như lúa gạo, lúa mạch, chè (trà), cà phê, chứa nhiều Ni hơn thịt, sữa và các rau quả có dầu.
Cơ thể người có chừng 10 mg Ni, được phân phối ở đều khắp các loại tế bào, nhưng có nhiều hơn ở xương, răng, các tuyến thượng thận, phổi, não và da. Các cơ bắp, tinh hoàn, buồng trứng hầu như không có Ni. Người ta chưa xác định được nhu cầu hàng ngày về Ni của cơ thể người mà chỉ ước lượng từ 300 – 600 ug/ngày.
Dự đoán Ni có vai trò xuc tác cho một số phản ứng sinh học trong cơ thể liên quan tới các hoóc-môn có chức năng điều hòa hoạt động của chất prolactin đối với tuyến yên, tăng cường tác dụng của insulin, ức chế tác dụng làm tăng huyết áp và tăng lượng đường trong máu của chất adrenalin, tham gia tổng hợp chất sắc tố của da (melanine), chi phối sự hấp thụ chất sắt và can thiệp vào sự chuyển hóa các axít nucleic (ADN) chứa các thông tin cần thiết cho sự hoạt động của tế bào.
Hiện tượng dị ứng và ngộ độc niken
Những trường hợp cơ thể bị rối loạn do thiếu hoặc thừa Ni chưa được các nhà khoa học xác định rõ ràng vì người ta cũng chưa biết rõ nhu cầu của cơ thể người về Ni. Tuy nhiên, những phản ứng của cơ thể bị ngộ độc vì các chất muối của Ni thì đều dễ nhận thấy qua các biểu hiện như đi tiêu lỏng và bị nôn ói. So với khí độc oxýt cácbon (CO) thì chất Nickel cacbonyl còn độc gấp 100 lần, làm nhiễm độc phổi, não, gan, tuyến thượng thận và thận cùng với các triệu chứng đau bụng, sốt và bại liệt từng phần.
Ngoài ra, những vụ ngộ độc nhẹ vì Ni có thể xảy ra hàng ngày ở khắp nơi do nạn nhân tiếp xúc với các đồ dùng bình thường trong sinh hoạt. Các móc áo nịt, đôi bông tai, chiếc vòng cổ, dây đồng hồ đeo tay… được mạ kền đều có thể gây dị ứng da. Đôi khi, có những trường hợp rất đơn giản nhưng lại khiến cho bác sĩ phải suy nghĩ mãi mới tìm ra nguyên nhân.

Chữa khỏi bệnh gút

Những quả nhỏ có nước với những hạt mầm nhỏ trong nó như: mâm xôi den, nho quả nhỏ, phúc bồn tử, dâu tây v.v..
Những quả hạnh, đặc biệt là chanh, đào lộn hột, quả phỉ, quả hạnh tròn vỏ cứng, và quả óc chó v.v..
Những hạt mầm như: thìa là, hạt hạnh, anh túc, bí ngô, vừng mè, huớng dương. Cũng kể đến những hạt mầm trong nho sẫm đỏ và màu hồng chứ không phải là thịt quả ở bên ngoài.
Rau có củ như cà rốt, sắn dây, củ cải, khoai tây. Tất cả các loại bí và dưa chuột.
Cả cá nước ngọt, cá biển và tôm, trai, sò, cua…
Hầu hết các loại thịt chim, thú hoang dã chứ không phải gia cầm, vật nuôi.
Một người tình cờ mà tôi gặp là tài xế xe buýt đã bị khổ sở nhiều năm về diễn biến xấu của bệnh gút vì không thể tìm được cách làm giảm đau cho đến khi ông ta phát chán và quay sang điều trị bằng các dược thảo.
Ông cho biết là ông đã dùng bốn loại dược thảo khác nhau tại những quẩy bán thực phẩm sạch dưới dạng pha thành trà để uống. Đó là các loại cây thuỳ cư, lá tầm ma, cải long và hoắc hương với những lượng bằng nhau (mỗi thử một thìa canh) pha với 1lít nước sôi. Ông đậy vung lại, đun sôi các dược liệu trên trong vài phút sau đó bắc ra và để ngâm một lúc. Ông đem lọc nước vào trong 1 bình khác và mỗỉ lần uống 1cốc con vào 3 buổi sáng, trưa, tối.
Ông ta khẳng định là chỉ trong vài tần thì ông khỏi hẳn bệnh gút và từ đó không bị nó làm khổ nữa. Đến bây giờ ông vẫn thỉnh thoảng uống thứ trà trên nhưng không thường xuyên như trước đây. Ông ta cho rằng mỗi tuần hiện nay ông uống trà đó 2 lần để đề phòng bệnh trở lại.
Từ đó, tôi không được nghe nói về tên ông ta nữa nhưng không lâu sau để chứng minh sự hiệu quả của công thức điều trị đó, tôi phổ biến cho một người bạn cũ bị bệnh gút. Ông ta đã ngay lập tức sử dụng nó và chỉ trong một số ngày sau đã cho biết là ngón chân cái của ông đã khỏi sưng ngay sau khi dùng thuốc và hai mắt cá chân bắt đầu đỡ sưng và đỡ đau. Ông ta rất sung sướng vì thấy được hiệu quả nhanh như thể nhờ vào công thức của một người không quen biết tốt bụng.
Al Kracht một nhà thơ trào phúng 68 tuổi trên đầu không hề có tóc bạc. Khi tôi thắc mắc hỏi về điều bí mật của ông ta về chuyện đó, tôi rất ngạc nhiên khi biết tất cả là do quả cây man việt quất!

Đứa con thông minh

Trong lúc mang thai người mẹ nên ở những nơi mát mẻ, sạch và có nhiều cảnh đẹp mắt
Nhưng theo sự nghiên cứu y học, khoa học, tâm lý con người phải nói một cách chính xác rằng: muốn biết đứa con sau này có được thông minh hay không, cứ nhìn vào cử chỉ và hành động của người mẹ trong lúc có thai nghén.
Muốn có một đứa con thông minh, khi bắt đầu có thai nghén người đàn bà nên giảm chính sự làm việc mệt nhọc, giữ cho lòng mình được trong sạch và thanh thản. Đừng nên nhìn vào những hiện tượng kỳ dị, quái lạ, đừng nên làm cho các dây thần kinh căng thẳng trong lúc mang thai. Nhất làm xem tiểu thuyết, phim ảnh có những hình ảnh quái lạ. Trong lúc đó người đàn bà cũng không nên nhìn những cảnh tượng diễn ra có tính ghê tởm và sợ hãi mà rất cần cho sự du ngoạn, tìm xem những phong cảnh lạ để mở rộng tầm hiểu biết, có thể tìm những nơi có hoa nở tưng bừng, có vườn cây mát mẻ đề người mẹ hưởng không khí trong lành, thanh khiết. Nghĩa là, trong lúc mang thai người mẹ nên ở những nơi mát mẻ, sạch và có nhiều cảnh đẹp mắt.
Trong lúc thai nghén có sự hoạt động, nhìn thấy cảm nghĩ của người mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến đứa con sau này. Trong thời gian này, nếu người mẹ không có những trường hợp để cho lòng thanh thản, vui tươi, thường lo lắng, mệt nhọc thì đứa con bị ảnh hưởng theo.
Kinh nghiệm cho thấy rằng, những đứa con thông minh đều được sinh ra trong những gia đình có đầy đủ yếu tố cần thiết cho sự sống của mẹ, có đầy đủ nhu cầu cần thiết để bồi dưỡng và làm cho người mẹ không có một cảm nghĩ gì trong gia đình cũng như trong sự sinh sản sắp tới, người mẹ chỉ lo thân thể và tìm những cái thanh thản vui tươi cho tâm hồn.
Ngoài những sự cần thiết cho sự sinh sản, còn có những giây phút êm đềm gia cảnh. Như vậy, sự vui tươi, mở rộng kiến thức của người mẹ, sau này đứa con cũng ảnh hưởng theo, chẳng những sanh con được tươi tốt, duyên dáng mà sau này đứa con thông minh hoàn toàn.
Muốn được như vậy thì từ khi mang thai cho đến ngày sinh nở, các bà mẹ nên đi xem hoa, hái hoa hoặc tìm những phong cảnh đẹp tất nhiên đứa con sẽ đẹp và thông minh. Bạn gái hãy học tập kinh nghiệm và sẽ thấy kết quả chắc chắn. Đừng nên tin tưởng vào các ông “thầy” chuyên nói mà không biết gì về khoa sinh sản, nhất là các ông “thầy tướng số”. Việc sinh con không phải do việc làm phúc đức mà ra. Sự thật là do ở sự thông minh của người mẹ. Làm phúc đức cũng là một việc tốt, song chỉ làm cho lòng mình trong sạch và thanh thản mà thôi, và nó chỉ có ảnh hưởng một phần đến những việc khác mà thôi.

Sự yếu đuối của tuổi già

Những thực phẩm cung cấp cho cả 3 vitamin này có rất nhiều. Vitamin B6 có nhiều trong thịt nạc, gan, rau quả, hạt ngũ cốc lứt, một số hạt mầm và hạt hạnh. Folacin có nhiều trong các cây cỏ, nhất là ở những phần có màu xanh – cũng vì thế trong não, gan, thận, trứng, nấm men, mầm lúa mạch, có ít hơn trong sữa, pho mát, thịt bò và rau.
Có vài chất trong chất đó có thể được dùng một cách thường xuyên giúp bạn trở nên duyên dáng hơn. Hãy nghĩ đến chúng như sự an ủi về mặt dinh dưỡng trong những năm tháng của những đám mây đen của tuổi già.
Một trong những dấu hiệu phổ biến nhất của tuổi già là xương dễ bị tổn thương. Nguyên nhân chính thường được gán cho là do loãng xương. Đó là một tình trạng mất nhiều khối xương do thiếu các chất khoáng cần thiết cho sự hình thành xương như phospho và đặc biệt là calci. Những xương bị ảnh hưởng trở nên xốp, giòn và dễ bị gẫy.
Khớp cổ tay, khớp háng và những đốt sống là những vị trí gãy xương thường gặp nhất vì lí do trên. Rối loạn này rất phổ biến ở những người trên 70 tuổi và nữ bị ảnh hưởng gấp 4 lần so với nam giới do những biến động về nội tiết ở trong thời kì mãn kinh.
Nhưng tình trạng xương dễ bị tổn thương có thể dễ dàng tránh dược bằng cách áp dụng chế độ ăn của thời kì đồ đá. Một số thực phẩm được ăn ở thời kì đó làm cho kích cỡ và sức mạnh của xương vượt xa những tiêu chuẩn mẫu của người hiện nay. Mẫu tốt nhất hơn hẳn đồ dùng cho sự nghiên cứu này là những người Meanderthal.
Tất nhiên là không ai trong cuộc sống ngày nay lại có thể có được loại sức khỏe kì quái không thể tin được như của người tiền sử. Nhưng rất có thể bằng một số loại thực phẩm thì ít nhất cũng có thể làm tăng gấp đôi mật độ khối lượng xương và do đó phòng ngừa được sự dễ tổn thương xương khi về già.
Những người Neanderthal là những người anh hùng tìm kiếm chứ không phải là nông dân. Thức ăn của họ là các loại thú hoang da, cá, trai, sò, tôm, cua, những rễ cây ăn được, thực vật có lá, vài thứ quả to, dâu, quả có hạt và các hạt mầm và thực tế là không bị hao mòn xương. Nhưng như bằng chứng về sau này cho thấy, những cấu trúc giải phẫu hiện đại thay thế cho thấy là dễ bị chứng xốp xương. Những nông dân dễ bị mất xương hơn là dân trong những xã hội săn lùng – tìm kiếm như của người Neanderthal.

Axit uric có khả năng chống lão hóa

Thời gian Mo ở trong cơ thể, kể từ khi được hấp thụ tới khi bị thải ra ngoài, được coi là ngắn nhất so với hành trình của các nguyên tố khác. Lượng Mo được tích lũy ở gan và thận rất nhỏ, không bao giờ vượt quá 10 lần bình thường. Mỗi ngày, cơ thể có thể hấp thụ tới 0,1 mg Mo từ thức ăn và có thể tiếp nhận lượng Mo bổ sung tới 0,3 mg/ngày.
Tác dụng chính của Mo đối với cơ thể là thực hiện việc giải độc như : dự phần chuyển các chất muối đọc sunfít thành muối sunfát không độc, vô hiệu hóa một số andehyt độc được hình thành trong quá trình chế biến và nấu thức ăn, điều hòa sự hình thành chất axít uric. Axit uric có khả năng chống lão hóa nhưng nếu có nhiều quá mức bình thường sẽ gây ra bệnh Gút, làm đau nhức ngón chân, ngón tay, các khớp và một số bệnh về tim mạch.
Ngoài ra, Mo còn có tác dụng :
Cố định chất Flour (F) vào men răng, giúp răng chắc bền và chống bệnh sâu răng.
Kích thích việc hấp thụ chất sắt ở ruột cần thiết cho sự tạo thành các hồng huyết cầu
Đào thải chất đồng khi lượng nguyên tố này vượt quá mức cần thiết
Tham dự vào việc tổng hợp nhiều enzyme quan trọng có liên quan tới sự chuyển hóa các axit nucleic, các axit amin ở các cơ quan nội tạng như phổi, thận, gan, ruột, v.v…
Việc bổ sung Mo cho cơ thể
Lượng Mo thường được các bác sĩ chỉ định cho các đối tượng cần được bổ sung như sau :
Người cần bổ sung
Lượng Mo (ug/ngày)
Trẻ sơ sinh 30
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 40
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 50
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 100
Người lớn 150
Những người cần được bổ sung thêm Mo gồm : người bị các chứng bệnh dị ứng, hen, bệnh đường ruột, trẻ sinh non, người có tỷ lệ axit uric trong máu quá thấp hoặc tỷ lệ andehyt quá cao.
Mo là nguyên tố vi lượng điển hình về tác dụng 2 mặt : thiếu sẽ làm cơ thể dễ bị nhiễm độc, kể cả bị đe dọa về bệnh ung thư, nhưng thừa sẽ làm giảm quá mức chất đồng trong cơ thể và gây ra một số chứng bệnh về thấp khớp như bệnh Gút.
ở một số nước, người ta nghiên cứu mẫu đất từng vùng để biết đất có nhiều hay ít Mo và khuyên dân chúng dùng thuốc có Mo để bổ sung nếu cần. Những nước được coi là “nghèo” về Mo là Hungari, Zambia, còn nước “giàu” Mo là Ý, I-rắc, Ấn Độ, Pakistan. Vì ảnh hưởng thổ nhưỡng, theo lý thuyết thì người Hungari chóng già, còn người Ý, I-rắc, Ấn Độ lại hay bị đau ngón chân.