Month: May 2016

Vai trò của Molybden trong cơ thể người

Kích thích và điều khiển sự chuyển hóa các chất đường và protein trong cơ thể
Sự hấp thụ Li được thực hiện ở ruột, được chuyển nhanh vào máu. Huyết thanh bình thường có chứa lượng Li dưới mức 60 ug/l. Nồng độ Li ở tủy sống chỉ bằng 40% nồng độ Li trong máu và cao nhất ở thận. hiện tượng Li thấm vào các tế bào não xảy ra rất từ từ. Lượng Li của các thuốc được bổ sung vào cơ thể sẽ bị thải ra gần hết trong vòng 24 giờ qua đường nước tiểu, đường tiêu hóa và mồ hôi.
Liều lượng bổ sung thường thấp hơn liều lượng Li dùng để chữa bệnh rất nhiều (ít hơn 1000 lần). Việc cơ thể thừa Li có thể làm người bệnh cảm thấy chóng mặt, nôn ói, người run, lực cơ bắp bị suy yếu, nhịp tim rối loạn.
Để tránh các hiện tượng trên, các bác sĩ thường yêu cầu bệnh nhân xét nghiệm máu để theo dõi tỷ lệ Li trong máu và chỉ định liều lượng hợp lý.
Việc dùng thuốc co Li trong thời gian dài có thể làm người bệnh buồn ngủ, suy giảm khả năng tình dục và tăng cân. Li có thể thấm qua nhau thai nên phụ nữ mang thai không nên dùng thuốc có Li.
Việc xét nghiệm trên cơ thể các thú vật nuôi trong phòng thí nghiệm cho thấy Li có khả năng kích thích sự hoạt động của các virút HIV. Bởi vậy nên các thuốc có Li cũng không thích hợp với các đối tượng đã có kết quả xét nghiệm máu HIV dương tính.
Molybden (Mo)
Môlípđen là tên phiên âm của nguyên tố Molybden, có ký hiệu Mo, được phát hiện vào năm 1782 trong quặng kim loại. Năm 1930, một nhà hóa học xác định Mo rất cần thiết cho việc hấp thụ azôt (N) của một số vi sinh vật trong đất. hiện nay, Mo vẫn được coi là chất cần thiết giúp cho các cây trồng dễ hấp thụ chất đạm từ các phân bón hóa học. Tới năm 1983, nhà sinh – hóa học Coughlan còn đề cập thêm tới vai trò phụ enzyme của Mo trong cơ thể người.
Cơ thể người có từ 5 – 10 mg Molybden, tập trung nhiều ở gan, thận, rồi tới các tế bào mỡ, các tuyến thượng thận và xương, phổi, lá lách. Các cơ bắp và não cũng có nhưng ít.
Nguồn cun cấp Mo cho cơ thể người là các loại rau quả, nhất là các loại đậu, hạt đậu và ngũ cốc. Thịt, cá, sữa có ít Mo hơn.
Ruột hấp thu Mo từ thức ăn rồi chuyển vào máu ở dạng muối molybdat để dẫn tới mọi điểm trong cơ thể trước khi thải ra ngoài qua đường tiểu tiện và tiêu hóa.

Hiện tượng thiếu, thừa côban trong cơ thể

Mỗi ngày, cơ thể chúng ta cần 3 ug vitamin B12, tương ứng với 0,04 – 0,12 ug Co, mà các bữa ăn trong ngày thừa khả năng cung cấp vì có thể đạt tới 5 – 45 ug. Lượng Co này trong thành phần của vitamin B12 là trợ thủ đắc lực của 2 loại enzyme có vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa các chất axit amin trong thực phẩm, rồi lại giúp cơ thể tổng hợp các axit amin mới phù hợp với cơ thể người.
70% lượng Co do cơ thể hấp thụ được từ thức ăn lại được thải ra ngoài qua đường tiểu tiện, 10 – 15% qua đường tiêu hóa. Những người thiếu Co thường bị bệnh thiếu máu. Nhưng nguyên nhân chính là do thiếu chất dinh dượng (ăn thiếu hoặc kiêng ăn thực phẩm động vật), bị bệnh về đường tiêu hóa hoặc cơ thể thiếu khả năng hấp thụ vitamin B12 (bệnh Biermer).
Hiện tượng thừa Co ít khi xảy ra đối với người bình thường. Riêng đối với những người làm việc tại nơi sản xuất Co thì có thể mắc bệnh về đường hô hấp giống như bệnh hen, bệnh viêm mũi do Co gây ra. Da tiếp xúc nhiều với Co có thể bị dị ứng và bị bệnh eczema.
Iốt (I)
Cách đây 5000 năm, người Trung Hoa đã biết cách chữa bệnh bướu cổ bằng rong biển, nhưng chưa biết rằng đó là nhờ tác dụng của chất iốt có trong rong. Iốt có tên khoa học là iodès, một từ Hy Lạp có nghĩa là màu tím. Ký hiệu của iốt là I.
Năm 1850, Chatin, nhà khoa học Pháp, xác định rằng bệnh bướu cổ là do hiện tượng thiếu iốt của cơ thể gây ra. Năm 1914, Kendall tách riêng được chất thyroxin chứa nhiều iốt từ tuyến giáp.
Vai trò của iốt trong cơ thể người
Cơ thể người có khoảng 50 mg iốt, 20 – 30% lượng iốt này tập trung ở tuyến giáp. Lượng I trong máu từ 0,1 – 0,3 ug/100 ml và trong các hoóc – môn của tuyến giáp từ 4 – 8 ug/100 ml.
Vai trò chủ yếu của iốt là tham gia vào việc hình thành các hoóc – môn của tuyến giáp. Những hoóc – môn này rất quan trọng cho sự phát triển hài hòa của cơ thể nói chung và bộ não nói riêng, có liên quan tới :
Sự phát triển và bền chắc của xương (do vai trò điều tiết lượng phốt-pho và canxi trong cơ thể).
Sự hoạt động của các cơ
Việc phân phối oxy cho các cơ tim
Sự chuyển hóa chất ở ruột
Sự sản xuất hồng huyết cầu (do chức năng điều khiển việc hấp thụ chất sắt).
Chức năng thanh lọc các chất của thận
Sự điều chỉnh thân nhiệt
Việc tổng hợp các phân tử lipit mới và bỏ các phân tử lipit đã xuống cấp.

Vai trò của côban trong cơ thể người

Nữ từ 13 tuổi trở lên 12
Nam từ 13 tuổi trở lên 15
Phụ nữ mang thai 15
Phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ 19
Người già 12
Bác sĩ có thể chỉ định những liều lượng cao hơn trong các trường hợp chữa mụn ở mặt, loét dạ dày, bệnh herpes (bệnh ngoài da, còn gọi là “giời leo”). Thuốc có chất kẽm có loại dùng để bôi ngoài da, để vết thương mau lành, hoặc thuốc uống.
Những nguyên tố vi lượng khác
Sáu nguyên tố vi lượng khác được đề cập sau đây đều cần thiế cho cơ thể. Đó là các nguyên tố : côban (Co), iốt (I), liti (Li), molybden (Mo), niken (Ni) và vanadi (V).
Côban là thành phần chính của vitamin B12, nên vitamin này còn được gọi là chất cobalamin. Iốt cần thiết cho sức khỏe tới mức việc trộn iốt với muối ăn được coi là chính sách về sức khỏe của nhiều quốc gia trên thế giới. liti có liên quan tới tình trạng tinh thần của con người, còn vanadi và niken đều có mặt trong cấu tạo tế bào, nhưng vai trò của chúng còn nhiều điều mà khoa học cần phải tiếp tục nghiên cứu và khám phá.
Coban (Co)
Côban hay Cobalt có ký hiệu Co, là một nguyên tố hiếm, chỉ có rất ít trong nước tự nhiên và trong đất.
Cách đây 2000 năm, người ta đã biết dùng coban để làm chất màu, nhưng mãi tới năm 1922 mới biết sử dụng Co để chế tạo hợp kim. Tới năm 1935, nhà khoa học người Úc, Underwood, nhận thấy hiện tượng thiếu Co ở loài bò sẽ dẫn tới hiện tượng chán ăn và thiếu máu.
Cho mãi tới năm 1955, các nhà khoa học mới xác định được sự có mặt của Co trong tế bào động vật nói chung và cả trong cơ thể người.
Cơ thể người có khoảng 1 mg côban, chủ yếu được tích lũy ở gan. Vì Co là nguyên tố chính trong vitamin B12, nên có thể coi những đặc tính của vitamin B12 cũng là của Co, như : chống bệnh thiếu máu, kích thích sự tiêu hóa, hỗ trợ hoạt động của hệ thần kinh, tăng cường trí nhớ, giúp cho sự phát triển cơ thể của trẻ em được thuận lợi v.v…
Những thực phẩm cung cấp cho cơ thể vitamin B12 cũng là những nguồn côban, chủ yếu là gan, sữa, thịt, trứng … Bởi vậy, những người ăn kiêng hay ăn chay, chỉ ăn các thực phẩm thực vật thường bị thiếu côban. Trong cơ thể, lượng Co được phân phối như sau : 45% trong các cơ bắp, 15% trong xương, phần còn lại được phân tán trong mọi tế bào. Máu chứa từ 0,07 – 136 ug/l, chủ yếu trong hồng huyết cầu.

Lượng Zn trong một số thực phẩm

Ruột hấp thụ chất kẽm sinh học từ các thức ăn. Nguồn Zn phong phú nhất là thịt các loài sò hến, thịt gia súc, cá và các loại hải sản. Rau quả cũng chứa kẽm nhưng ít và cơ thể khó hấp thụ. Sữa bò và sữa mẹ đều giàu chất kẽm (20 mg/l).
Loại thực phẩm
Lượng Zn (mg/100g)
Sò, hến 70
Gan 7,8
Thịt đỏ (thịt bò) 4,3
Trứng 1,5
Zn được hấp thụ vào máu rồi đưa tới gan, một phần được lưu trữ, một phần được phân phối tới mọi cơ quan trong cơ thể để dự phần chống stress, chống nóng, lạnh, sự mệt mỏi, sự lây nhiễm ….
Mỗi ngày, cơ thể người trưởng thành hấp thụ được từ 10 – 15 mg Zn. Đồng, sắt, canxi, phốtpho, các chất xơ hạn chế khả năng hấp thụ kẽm của cơ thể, trong khi sữa và các sản phẩm của sữa, rượu vang, các axit amin tăng cường khả năng này.
Đa số chúng ta thường bị thiếu chất kẽm. Hiện tượng cơ thể thừa chất kẽm chỉ xảy ra ở những người dùng thuốc bổ có kẽm với liều lượng cao. Lượng Zn sử dụng cao hơn 150 mg/ngày sẽ có hại cho cơ thể vì làm suy yếu khả năng chuyển hóa chất. Khi cơ thể bị bệnh do vi khuẩn gây ra, cần phải ngưng dùng các thuốc có Zn, vì vi khuẩn có thể phát triển nhanh nhờ khả năng hấp thụ Zn nhanh hơn cơ thể.
Những đối tượng cần được bổ sung thêm chất kẽm gồm : trẻ em đang ở độ tuổi phát triển, những người bị bệnh tiểu đường, người bị thương, người sắp phải qua cuộc giải phẫu, nghiện rượu nặng, người ăn chay (chỉ ăn thực phẩm thực vật), người uống thuốc có chất sắt, asprrine, người bị bỏng, bị rối loạn đường tiêu hóa, mắt mờ, phụ nữ đang ở độ tuổi sinh nở, đang mang thai hoặc nuôi con bằng sữa mẹ, người cao tuổi, người già.
Những biểu hiện của hiện tượng cơ thể thiếu chất kẽm là : móng tay dễ gãy, có vệt trắng, tóc rụng, da khô, dễ bị viêm nhiễm. Đàn ông yếu khả năng sinh lý, phụ nữ dễ gặp sự cố khi mang thai, dễ sinh con thiếu tháng, đứa trẻ yếu dễ bị dị dạng hoặc có vấn đề không bình thường ở hệ thần kinh, chậm lớn.
Người già thiếu chất kẽm dễ bị suy thoái cơ bắp và xương, giảm chiều dày của da, kén ăn hoặc ăn không thấy ngon miệng.
Lượng kẽm thường được các bác sĩ chỉ định cho các đối tượng tính ra miligam dùng hàng ngày như sau :
Đối tượng
Lượng Zn (mg/ngày)
Trẻ sơ sinh 6
Trẻ em từ 1 – 9 tuổi 10
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 12

Vai trò của kẽm trong cơ thể người

Lượng Si có thể bổ sung trong ngày cho một người từ 21 – 56 mg/ngày, nhưng còn có thể tăng hơn cho trẻ em trong độ tuổi đang lớn, cho người bị thương tích, bị gãy xương đang ở thời kỳ hồi phục, người bị bệnh giãn mạch hoặc cần chống sự ngộ độc do nhôm.
Chất Si sinh học cùng mọi hợp chất của nó không độc nên hiếm có trường hợp bị phản ứng do cơ thể có thừa, trong khi nhựng bụi Si công nghiệp thường làm cho những người thợ mỏ hoặc công nhân làm việc ở các xưởng sản xuất amiang bị bệnh silic (silicose) tác hại tới phổi và gây ung thư màng phổi.
Kẽm (Zn)
Kẽm có tên khoa học là Zincum, ký hiệu Zn, là một nguyên tố vi lượng có tầm quan trọng hàng đầu đối với cơ thể vì có liên quan tới tất cả các tế bào bà gien. Vậy mà các nhà khoa học chỉ xác định được điều này kể từ năm 1939 sau khi phát hiện sự có mặt của kẽm trong một loại enzyme (chất xúc tác sinh học). Năm 1961, Ananda Prasad, một chuyên gia trong ngành y đã phát hiện được hiệnt ượng cơ thể không hấp thụ được kẽm do di truyền, dẫn tối sự chậm phát triển của cơ thể, cả về khả năng sinh dục và chuyển hóa chất.
Cơ thể người trưởng thành chứa khoảng 2,5 g Zn, 30% lượng này ở trong xương, 60% trong các cơ bắp, nhưng tập trung nhiều nhất ở mắt, tuyến tiền liệt, thận, gan, tụy, tóc và huyết thanh của máu (có khoảng 0,9 mg/l). Trong thời gian mang thai, nồng độ Zn trong máu người mẹ có khi giảm sút tới 50% vì đã truyền sang thai.
Các nhà khoa học đã xác đinh được sự liên quan của kẽm với hơn 200 enzym, với các chức năng :
Kích thích sự phát triển của các tế bào mới, phục hồi các tế bào đã bị các gốc tự do làm tổn thương.
Hình thành và điều hòa sự hoạt động của một số hoóc-môn như insulin của tuyến tụy, gustin của tuyến nước bọt (nước miếng), testosterone (hoóc-môn sinh dục nam).
Điều hòa tỷ lệ giữa các tế bào thành phần của máu
Tăng cường khả năng hấp thụ oxy của hồng huyết cầu
Tăng cường tính bền của các thành mạch, các màng tế bào.
Điều hòa sự hoạt động của tuyến tiền liệt.
Kích thích sự phục hổi các vết thương
Kích thích sự chuyển hóa các vitamin A
Kích thích sự hoạt động thị giác và của hệ thần kinh trung ương.
Giúp cơ thể loại bỏ các chất độc hại, các nguyên tố ki loại nặng, chống lai sự lão hóa.
Nguồn kẽm trong tự nhiên, hiện tượng thừa, thiếu kẽm của cơ thể

Vai trò của Silic trong cơ thể người

Dư Se sẽ có các biểu hiện như hơi thở, mồ hôi có mùi hành, móng tay, móng chân dễ gãy, ngứa da đầu.
Theo các nhà chuyên môn thì lượng Se bổ sung cho người lớn có thể tới 200 ug/ngày.
Bình thường, việc chỉ định của bác sĩ về lượng Se bổ sung hàng ngày như sau:
Đối tượng
Lượng Se (ug/ngày)
Trẻ sơ sinh 15
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 20
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 30
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 40
Trẻ em từ 13 – 19 tuổi 55 – 60
Người lớn (nữ) 55
Người lớn (nam) 70
Phụ nữ có mang 65
Phụ nữ cho con bú sữa mẹ 75
Người già 70
Se là nguyên tố bảo vệ hồng cầu, chống bệnh tim mạch, bệnh ung thư, chống lại sự lão hóa giống như tác dụng của vitamin E và vitamin A (beta-carôten) nên cần cho người già, người sống ở môi trường bị ô nhiễm, người đeo răng giả hoặc tram răng (vì chất tram hoặc làm răng giả có thể gây độc), người nghiện rượu, người có bệnh viêm, bệnh suy gan, thận và một số bệnh về cơ bắp.
Silic (Si)
Silic có tên khoa học là Silicum, ký hiệu Si, là nguyên tố được xếp thứ nhì về lượng ở vỏ trái đất (28%) chỉ đứng sau oxy. Loài người đã biết sử dụng các hợp chất silic để làm đồ thủy tinh và đồ sành sứ từ thời xa xưa. Ngày nay, Si lại nổi bật thêm vì ứng dụng của hợp chất silicone trong công nghệ chế tạo các con bọ điện tử.
Riêng trong lĩnh vực sinh học, Si chỉ được giới y khoa chú ý tới từ năm 1960, do các công trình của hai nhà khoa học người Pháp là Lucie Randoin và Loeper, nêu lên vai trò của Si trong cấu tạo các màng mạch. 12 năm sau (1972), nhà khoa hoc Mỹ Edith Muriel Carlisle lại chứng minh Si rất cần thiết cho sự cấu tạo và phát triển của các sợi gân.
Ngày nay, người ta đã xác định Si có trong thành phần xương, gân, các dây chằng, mạch máu và còn có mặt cả ở da và các cơ quan nội tạng.
Cơ thể người trưởng thành có khoảng 1,4 g Si, lượng nguyên tố này giảm bớt ở người cao tuổi.
Si còn có tính kháng độc, chống nhôm (Al), ngăn chặn không cho nhôm đột nhập vào xương và não. Hiện tượng thiếu Si trong cơ thể người có thể dẫn tới sự lão hóa nhanh các thành phần cấu tạo mạch, gân, dây chằng và chứng nhồi máu cơ tim.
Silic trong tự nhiên và nhu cầu về silic của cơ thể
Si có trong thành phần nước khoáng (nhiều hay ít phụ thuộc vào từng nơi khai thác), trong rượu bia và các hạt ngũ cốc.

Vai trò của sêlen trong cơ thể người

Cơ thể người có từ 3 – 15 mg Se, thường tập trung ở lớp vỏ thượng thận, ở gan, tuyến giáp và các cơ bao quanh xương. Ruột hấp thụ mỗi ngày 40 – 80 ug Se từ các thức ăn. Se có nguồn gốc sinh vật có thể được tá tràng hấp thụ hoàn toàn, còn Se có nguồn gốc hóa chất (dược phẩm) chỉ được hấp thụ khoảng 60%. Sự hấp thụ Se sẽ dễ dàng hơn nếu có thêm các vitamin A, E, C. Lượng Se không được hấp thụ sẽ bị thải ra theo nước tiểu và phân, một số ít theo hơi thở.
Se có tính chất chống oxy hóa, nhưng nổi bật nhất lại là tính kháng độc. Mỗi khi phát hiện được một chất độc trong cơ thể như thủy ngân (Hg), Se sáp lại gần, dính chặt mình vào chất đó rồi đưa tới thận để cơ quan này lọc bỏ và thải chất ra ngoài theo nước tiểu. Bằng cách này, Se luôn luôn sẵn sàng giúp cơ thể loại bỏ được các kim loại nặng, có tính độc hại như thủy ngân (Hg), cadimi (Cd), chì (Pb), asenic (As)… và các chất độc khác.
Một vai trò quan trọng khác của Se là việc cùng kết hợp với enzyme GPX (glutathione peroxidase) để vô hiệu hóa chất nước oxy già, ngăn việc tạo thành các gốc tự do, phục hồi lại các phân tử axít béo đã bị tổn thương bởi các gốc tự do gây ra các hiện tượng dị ứng và viêm của cơ thể. Ngoài ra, Se còn giúp cho máu dễ lưu thông, tránh được các bệnh về tim mạch và bệnh ung thư. Một công trình nghiên cứu về Se gần đây của một nhà khoa học tại Ê–cốt (xứ Tô-cách-lan) còn chứng minh rằng Se là nhân tó kích thích sự hoạt động của các hoóc-môn tuyến giáp.
Sêlen trong tự nhiên và nhu cầu và sêlen của cơ thể
Se gắn với các protein có trong thịt, cá, các loại hải sản, trứng và các hạt ngũ cốc. Lượng Se có trong động vật và thực vật còn tùy thuộc vào chất đất nơi sinh sống vì sự phân phối Se ở vỏ trái đất không đồng đều. Người ta đã nhận thấy tại một vùng ở Trung Quốc có nhiều người bị bệnh tim do thiếu se. Trái lại, đã từng có nhiều vầy gia súc tại một địa phương ở Mỹ bị ngộ độc vì cỏ nơi đây chứa quá nhiều Se.
Sự thiếu Se của cơ thể thường dẫn tới các bệnh về tim mạch. Các tế bào thiếu sự bảo vệ sẽ mau bị oxy hóa (kể cả hồng huyết cầu), làm người bệnh mau già.
Việc dùng các thuốc có Se với liều lượng cao (10- 20 lần hơn liều bình thường), trong thời gian lâu làm cơ thể dư Se.

Crôm trong tự nhiên, nhu cầu về crôm của cơ thể

Bởi vậy, sự thiếu Cr của cơ thể có thể dẫn tới các bệnh về tim mạch và bệnh tiểu đường. Ngược lại, bệnh tiểu đường cũng có ảnh hưởng làm giảm sút lượng Cr vì bị thải ra ngoài theo nước tiểu. Việc dùng thuốc có Cr hoặc ăn chất men rượu bia có chứa hợp chất của Cr sẽ làm bệnh tiểu đường thuyên giảm, đồng thời hạ được cả lượng cholesterol trong máu.
Bệnh béo phì thường liên quan tới chứng xơ cứng động mạch vành và chứng nhồi máu cơ tim. Việc dùng thuốc có Cr có tác dụng làm giảm cân nhẹ, tránh được một số bệnh về tim mạch như cao huyết áp, loạn nhịp tim và cả những phản ứng phụ của thuốc ngừa thai.
Cr có nhiều trong men rượu bia và trong mật mía, nhưng 90% đã bị mất đi trong quá trình sản xuất bia và nấu đường. Ngoài ra, Cr còn có trong gan động vật, bơ, các chất gia vị. Thịt, rau, quả chứa ít Cr, từ 50 – 120 ng/g [1 ng (nanogam = 1.10^(-9) g)]
Mỗi ngày, cơ thể chỉ cần khoảng 4 ug Cr lấy từ thức ăn. Trong trường hợp cần bổ sung Cr cho cơ thể, bác sĩ thường chỉ định theo liều lượng sau :
Đối tượng
Lượng Cr (ug/ngày)
Trẻ sơ sinh từ 1 – 6 tháng 10 – 40
Trẻ em từ 6 – 12 tháng 20 – 60
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 20 – 80
Trẻ em từ 3 – 6 tuổi 30 – 120
Trẻ em trên 6 tuổi 50 – 200
Những vận động viên thể thao, người ăn nhiều chất ngọt, người bị tiểu đường, có nhu cầu về Cr cao hơn những người khác.
Tính độc của chất “crôm sinh học” (crôm trong động thực vật) không đáng kể nên hiện tượng gia tăng nồng độ Cr trong máu ở những người có bệnh tiểu đường không có gì đáng lo ngại, crôm điều chế từ các quặng mỏ kim loại thì có tính độc cao hơn. Sự nhiễm độc do bụi crôm và các muối crômát có thể gây tổn thương nặng ở phổi và đường hô hấp. Các dung dịch crômát, bicrômát và axít crômic có thể gây dị ứng hoặc loét da, mắt và màng nhầy ở mũi, thường gặp ở những người làm việc tại các nơi có hóa chất.
Sêlen (Se)
Sêlen có tên khoa học là Selenium, ký hiệu Se, được nhà hóa học Thụy Điển là Berzeliu phát hiện vào năm 1817, mới đầu chỉ được biết như một nguyên tố kim loại có tính độc.
Hơn một thế kỷ sau, nhờ công trình của nhiều nhà khoa học khác, Se mới nổi lên như một nguyên tố có nhiều tính chất quý, đặc biệt là khả năng chống lại các gốc tự do, bảo vệ các tế bào tránh sự lão hóa và được mô tả là một nguyên tố gần với lưu huỳnh (S).

Vai trò của crôm trong cơ thể người

Cơ thể thừa F sẽ có các triệu chứng như :
Men răng bị lốm đốm đen, có thể phát triển thành các lỗ thủng nhỏ.
Các xương dài dễ cong, dễ gãy vì xương có nhiều F bị yếu, không chắc như xương có cấu tạo canxi, đặc biệt đối với xương đùi.
F là môt chất oxy hóa mạnh, nên sự dư F sẽ làm cho cơ thể mau bị lão hóa, làm tăng huyết áp, có hại cho cơ quan tiêu hóa, gây nôn ói và đau bụng.
Bởi vậy, có một biện pháp khác để người ta chủ động trong việc tiếp thêm F cho cơ thể là trộn muối natri florua (NaF) vào muối ăn (ở Pháp) hoặc vào bột cho trẻ em (ở Đan Mạch).
Liều lượng F được các bác sĩ chỉ định cho các đối tượng cần bổ sung như sau :
Đối tượng
Lượng Flo (mg/ngày)
Trẻ em từ 6 tháng – 2 tuổi 0,25
Trẻ em từ 2 – 4 tuổi 0,5
Trẻ em từ 4 – 16 tuổi 1,0
Các viên thuốc thường chứa Natri florua (NaF) : 2,2 mg NaF chứa 1 mg F.
Flo ở thể khí rất độc. Hít từ 2 g trở lên có thể bị chết, sự tiếp xúc thường xuyên với khí flo có thể gây bệnh mãn tính do ngộ độc.
Bốn chàng hiệp sĩ
Trong số các nguyên tố vi lượng, có những nguyên tố có tính kiềm chế tác dụng của nhau như sắt với kẽm, liti với iốt, có những nguyên tố hỗ trợ lẫn nhau như đồng với sắt, flo với canxi.
Lại có những nguyên tố chuyên bảo vệ các nguyên tố khác, sửa chữa các tổ chức tế bào bị hư hỏng, đánh lạc hướng các nguyên tố độc hại ra khỏi địa bàn hoạt động của chúng.
Đó là 4 nguyên tố nổi tiềng về lòng hào hiệp gồm : crôm (Cr), sêlen (Se), silic (Si) và kẽm (Zn).
Crôm (Cr)
Crôm có ký hiệu là Cr, do nhà hóa học người Pháp Vauquelin phát hiện vào năm 1797 và được các nhà khoa học sử dụng trước tiên vào việc điều chế các hợp kim. Tới năm 1955 tác dụng của crôm lại được hai nhà sinh – hóa học người Mỹ là Walter Mertz và Klaus Schwarz nêu lên khi nói về các bệnh do thiếu crôm ở chuột.
Cơ thể người có từ 1 – 5 mg Cr, được phân phối đều khắp ở tất cả các tế bào. Ruột non hấp thụ được từ 0,4 – 3% Cr có trong lượng thức ăn được tiêu hóa. Khả năng hấp thụ Cr giảm đi ở người già và tăng cao nếu có mặt các chất phụ trợ như : histidine, axit glutamic, penicillamin.
Crôm có vai trò quan trọng đối với sự tổng hợp và chuyển hóa các chất đường (gluxit) và chất béo (lipit) trong cơ thể, có tác dụng như một trợ thủ đắc lực của insulin – chất hoóc môn kiểm soát lượng đường trong máu.

Vai trò của Flo đối với cơ thể

Người công nhân thường bị nhiễm Mn qua đường hô hấp, làm tổn hại phổi, hệ thống thần kinh. Thận, hệ tim mạch, các tinh hoàn cũng có thể bị tổn hại. Mn đúng là một nguyên tố hóa học có tác dụng như con dao 2 lưỡi : rất cần thiết cho sự sống của cả động vật và thực vật, nhưng sẽ gây tác hại khi có dư. Bởi vậy, nếu cơ thể không thiếu mà lại dùng thuốc bổ sung thêm Mn thì sẽ là một việc làm rất nguy hại.
Flo (F)
Flo hay flour, là một á kim có ký hiệu là F, được nhà hóa học Henri Moissan tách riêng ra lần đầu tiên vào năm 1886.
Người ta chưa rõ flo có vai trò quan trọng đối với sức khỏe như nhựng nguyên tố vi lượng khác hay không, mà chỉ xác định được tác dụng của F đối với răng và men răng.
Cơ thể người có khoảng 2g flo, 96% ở xương, răng và men răng. Lượng F còn lại có mặt trong gân, các dây chằng và máu. 1 lít máu có chứa 0,032 mg F.
Là thành phần cấu tạo các mô xương, F còn có tác dụng kích thích sự hoạt động của một số hoóc- môn, thúc đẩy sự tạo thành các tế bào xương xen kẽ vào các phần xương xốp để xương thêm cứng.
Về khả năng chống bệnh sâu răng, F có tác dụng ức chế hoạt động của các vi khuẩn làm hại men răng và củng cố phần cấu tạo xương, làm cho răng thêm chắc.
Nguồn Flo trong tự nhiên
Flo có trong nước tự nhiên (nhiều hay ít tùy thuộc vào từng nguồn nước, từng vùng địa lý), trong các thực phẩm có nguồn gốc thực vật, trong rau xanh và các loại quả như: cà chua, củ cải đỏ, rau cải xoăn, rau cải hoa (súp – lơ); 100g chè (trà) đen có chứa 10mg F.
Nhu cầu về Flo của cơ thể
Bình thường, F không có ảnh hưởng rõ rệt gì đối với mọi hoạt động của cơ thể nên các nhà khoa học cũng không xác định được lượng F cần thiết cho cơ thể là bao nhiêu. Việc dùng F để phòng ngừa bệnh sâu răng chỉ giới hạn ở các loại thuốc đánh răng và súc miệng.
Ở Mỹ, Canada và một số nước ở châu u như Đức, Tiệp Khắc, Hungari, Nga,… nah2 nước chủ trương cho F vào nước máy để nhân dân dùng vì tin rằng như vậy sẽ khống chế được bệnh sâu răng. Nhưng các nhà khoa học ở Pháp lại phản đối biện pháp này vì cho rằng như vậy cái lợi và cái hại gần như ngang nhau và rất dễ vượt lên nhau. Trên thực tế, không có bệnh thiếu F mà chỉ có bệnh do thừa F.