Month: May 2016

Vai trò của mangan trong cơ thể người

Năm 1903, nhà sinh vật học Gabriel Bertrand chứng minh rằng đất thiếu mangan sẽ bị cằn cỗi, không trồng trọt được. bằng thí nghiệm dùng nước có chứa mangan được pha rất loãng chỉ có một vài phần nghìn gam trong một lít nước để tưới vào một mẫu đất khô cẳn, ông đã làm cho cây lại tiếp tục mọc và phát triển. Năm 1928, G. Bertrand chứng minh tầm quan trọng của Mn đối với sự phát triển của cơ thể các con chuột thí nghiệm. Những công trình này đã làm các nhà sinh – hóa học đặc biệt chú ý và công nhận vai trò không thể thiếu của Mn đối với đời sống của thực vật và động vật. Riêng ở người, hiện tượng thiếu Mn sẽ dẫn tới sự suy nhược, teo tinh hoàn, mất khả năng sinh sản và làm suy giảm sự hoạt động của một số enzyme.
Cơ thể người trưởng thành chứa từ 10 – 20 mg mangan, phần lớn tập trung trong xương, gan và thận. Lượng Mn trong máu vào khoảng 10 ug/l, tập trung ở hồng huyết cầu. Huyết tương có chứa từ 0,6 – 4 ug/l. Các cơ bắp nhận được Mn từ máu và giữ khoảng 35% tổng số Mn của cơ thể.
Do có tác dụng kích thích sự hoạt động của một số enzyme, hoặc kiềm chế tác dụng của một số chất khác như canxi, Mn tham gia vào nhiều hoạt động sinh hóa của cơ thể và là nguyên tố cần thiết có liên quan tới sự sinh sản, sự phát triển của xương, cảm giác giữ thăng bằng, sự hoạt động của não, sự tổng hợp của cholesterol, việc điều chỉnh nồng độ glucô trong máu, sự đông máu (phối hợp với vitamin K), v.v…
Giống như đồng, Mn tham gia vào cấu tạo của một số tế bào có tác dụng chống oxy hóa. Nhưng nếu những tế bào này có dư, chúng lại có tác dụng ngược lại, làm cho các tế bào có liên quan mau bị lão hóa.
Nhu cầu về mangan của cơ thể
Ở người lớn (nặng 70 kg), cơ thể cần mỗi ngày từ 6 – 8 mg Mn, và có thể được cung cấp đầy đủ bằng các thức ăn, chủ yếu là các thực phẩm thực vật như lúa, gạo, đậu, rau, quả, chè (trà),…
Một số thực phẩm chứa nhiều Mn
Loại thực phẩm
Lượng Mn (mg/100g)
Hạnh nhân 2,5
Lúa mì 1,1
Hạt điều 0,8
Nho khô 0,5
Hiện tượng thiếu, thừa Mn của cơ thể
Trường hợp cơ thể thiếu Mn ít khi xảy ra. Thường chỉ có hiện tượng cơ thể bị ngộ độc vì thừa Mn, đa số trường hợp do làm việc ở nơi khai thác (mỏ Mn) hoặc sử dụng Mn làm nguyên liệu ở các nhà máy hóa chất.

Đối tượng cần bổ sung sắt

Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, người bị tai nạn hoặc bị bệnh gây xuất huyết ở dạ dày, ruột, hậu môn (trĩ), buồng trứng dạ con,…, người nghiện rượu (dễ bị bệnh xơ gan), người ăn kiêng hoặc ăn chay.
Liều lượng sắt (trong thuốc bổ) thường được bác sĩ chỉ định cho các đối tượng thiếu sắt như sau :
Lượng sắt (mg/ngày)
Trẻ em từ 6 – 12 tháng 12
Trẻ em từ 1 – 2 tuổi 7
Trẻ em từ 2 – 6 tuổi 9
Trẻ em từ 6 – 12 tuổi 11
Nữ từ 13 – 16 tuổi 23
Nam từ 13 – 16 tuổi 13
Phụ nữ trong tuổi sinh nở 25
Phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ 12
Phụ nữ đã mãn kinh 9
Người lớn (nam) 11
Người vừa hiến máu, nếu hiến 400 ml máu mỗi lần sẽ thiếu hẳn lượng sắt dự trữ. Nếu hiến 4 lần trong năm thì cần bổ sung tới 17 mg sắt mỗi ngày đối với nam, còn đối với nữ, cần tới 45 mg/ngày.
Hiện tượng thừa chất sắt được xác định khi lượng sắt trong huyết thanh cao hơn 200 ug/100 ml. Nguyên nhân có thể do : di truyền, do bổ sung dư chất sắt, hoặc vì được tiếp máu nhiều lần quá mức cần thiết. Những người cơ thể có dư sắt thường ở độ tuổi từ 40 – 60, phần lớn là nam.
Những chứng bệnh liên quan tới hiện tượng cơ thể thừa chất sắt gồm : các bệnh về tim mạch, bệnh ung thư, bệnh Parkinson và bệnh thấp khớp. Ngoài ra, các tế bào bị oxy hóa nhanh làm cho người có dư sắt chóng già. Chính vì vậy mà một số nhà khoa học đã cho rằng sỡ dĩ phụ nữ lâu già và sống lâu hơn đàn ông, vì dã được thải bốt chất sắt ra ngoài qua các kỳ kinh nguyệt.
Để đề phòng hiện tượng thiếu sắt, trẻ em, phụ nữ đang ở tuổi sinh nở, đang mang thai hoặc cho con bú sữa mẹ đều cần phải chú ý ăn đều các thực phẩm giàu chất sắt như gan, thịt, cá, hải sản, trứng, đậu hạt, rau tươi và uống nước có vitamin C như nước cam, nước chanh. Thuốc bổ có chất sắt có thể được bác sĩ chỉ định là viên sắt, Biofer, Fumafer.
Trái lại, những người đã qua tuổi 50 (kể cã nam và nữ) thường dư chất sắt. Bởi vậy, nên hạn chế việc ăn các thực phẩm trên và uống nước trà (chè) sau bữa ăn. Khi dùng các thuốc bổ dưỡng, nên chú ý không dùng các loại thuốc có chất sắt.
Mangan (Mn)
Mangan có tên khoa học là Manganesia, ký hiệu Mn, được các nhà hóa học phát hiện từ cuối thế kỷ XIX, có trong củ cà rốt, củ cải đường, mía, cà phê và cây chè (trà).

Nhu cầu về sắt của cơ thể

Bởi vậy, trong thời gian có khả năng sinh đẻ, phụ nữ cần được bổ sung chất sắt hơn đàn ông.
Vai trò vận chuyển oxy của sắt là rất quan trọng vì tạo ra năng lượng cho mọi hoạt động của cơ thể. Cơ thể thiếu sắt sẽ bị yếu đi vì năng lượng bị giảm sút.
Tuy nhiên, sắt cũng là nhân tố tiếp tay cho oxy oxy hóa các tế bào và enzyme, các điểm có lưu huỳnh trên các màng bọc tế bào và các cơ quan nội tạng gây nên sự lão hóa và các chứng bệnh do tế bào bị lão hóa sinh ra, như bệnh ung thư, bệnh tim mạch, bệnh về mắt, về não, v.v….
Bởi vậy, sắt là con dao hai lưỡi. Thiếu sắt, cơ thể không được khỏe nhưng thừa sắt thì cơ thể dễ bị bệnh và chóng già.
Lượng thức ăn cho một người ăn mỗi ngày có thể chứa từ 10 – 30 mg sắt, nhưng cơ thề chỉ hấp thụ được một phần nhỏ, cỡ từ 0,5 – 1 mg. Sắt có cả trong các thức ăn có nguồn gốc động vật hoặc thực vật. Lượng sắt cơ thể hấp thụ được còn chịu ảnh hưởng giữa các thức ăn và nước uống với nhau.
Những thức ăn có vitamin C, nước cam đều có tính chất kích thích sự hấp thụ sắt. Trái lại, chất tanin trong nước trà có ảnh hưởng ngược lại. Cà phê có ít ảnh hưởng hơn.
Sắt trong thịt, cá dễ được hấp thụ hơn sắt trong rau, quả.
Lượng sắt có trong 100 g thực phẩm
Loại thực phẩm
Lượng sắt (mg/100g)
Chim bồ câu 20
Gan 8 – 18
Đậu hạt 11
Sò, hến, lòng đỏ trứng 6 – 7
Bột đậu nành 6
Thịt bò 3 – 6
Bánh mì 2 – 2,5
Thịt gà 1 – 2
Rau tươi 0,5 – 3
Hiện tượng cơ thể thiếu, thừa sắt
Hiện tượng thiếu sắt của cơ thể thường dẫn tới bệnh thiếu máu, cùng những biểu hiện như : da tái, màng niêm mạc bên trong mí mắt trắng nhợt, thở gấp khi cố sức, hay hồi hộp do nhịp tim dễ tăng cao hay bị loạn nhịp, hay buồn ngủ, khó tập trung tư tưởng, dễ bị các bệnh do viêm nhiễm. Phụ nữ mang thai dễ sinh non hoặc thai bị chết trước ngày sinh.
Để phát hiện bệnh thiếu máu, người ta không căn cứ vào số hồng huyết cầu mà chú ý tới sự giảm sút của lượng huyết cầu tố (dưới 12g ở nam và 11g ở nữ) cùng hình dáng và kích thước của hồng huyết cầu (thường nhỏ và bị dị dạng).
Những đối tượng dễ bị thiếu máu do thiếu sắt gồm : trẻ em bị suy dinh dưỡng, phụ nữ ở độ tuổi sinh nở (mỗi ngày có kinh có thể mất 1 lít máu có chứa 0,5g sắt).

Việc bổ sung chất đồng cho cơ thể

Người bệnh thường bị vàng da do có nhiều hồng huyết cầu bị hủy hoại và bị thải ra ngoài theo nước tiểu. Trường hợp nặng, có thể gây hoại thư ở gan và suy thận.
Tính độc của đồng còn được các thầy thuốc sử dụng trong việc chế tạo vòng tránh thai vì khả năng diệt tinh trùng. Việc bổ sung chất đồng cho cơ thể thường chỉ được bác sĩ chỉ định sau khi đã làm xét nghiệm máu và cân nhắc kỹ càng. Liều lượng đồng bổ sung tính ra miligam dùng mỗi ngày cho các đối tượng như sau :
Loại đối tượng
Liều lượng (mg/ngày)
Trẻ sơ sinh 0,5
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 1,0
Trẻ em từ 4 – 12 tuổi 1,5
Trẻ em từ 13 – 19 tuổi 2,0
Người lớn 2,5
Phụ nữ có mang hoặc nuôi con bằng sữa mẹ 3,0
Người già 2,5
Sắt (Fe)
Sắt có tên khoa học là Ferrum, ký hiệu Fe, là kim loại đã được loài người sử dụng sớm nhất, vừa để làm những dụng cụ phục vụ đời sống, vừa để chữa bệnh. Sử sách còn ghi lại câu chuyện cách đây 4.000 năm về Melampos, một vị tướng Hy Lạp, đã chữa khỏi bệnh cho con vua Argos bằng gỉ lưỡi kiếm sắt của mình. Ở Châu u thời cổ, người ta ngâm những chiếc đinh sắt vào nước, rồi dùng chất nước có gỉ sắt ấy như thuốc bổ cho trẻ em uống. Tuy con người đã cảm thấy sắt là một chất không thể thiếu được đối với sức khỏe nhưng mãi tới năm 1832, nhà khoa học Blaud mới chứng minh đươc rằng những muối sắt có tác dụng làm tăng hồng huyết cầu trong máu.
Vai trò của sắt trong cơ thể người
Cơ thể người chứa từ 3,5 – 4 g sắt, một phần ở trong hồng huyết cầu của máu và các sắc tố của các cơ, tham gia vào sự vận chuyển oxy từ phổi tới các tế bào và nhận khí cacbônic của các tế bào mang về phổi, một phần được dự trữ ở gan.
Sắt là nguyên tố được cơ thể sử dụng một cách tiết kiệm nhất. Cuộc đời hoạt động của các hồng huyết cầu chỉ có 120 ngày, nhưng lượng sắt trong mỗi phần tử đã chết lại được cơ theể thu hồi để đưa về tủy sống, nơi chế tạo ra những hồng huyết cầu mới. Mỗi ngày, cơ thể chúng ta thường hấp thụ được từ 0,5 – 1 mg sắt, nhưng chỉ thải ra vào khoảng 0,1 – 0,7 mg qua mồ hôi, nước tiểu và phân. Trong phân có những chất nhầy ở ruột có chứa những chất sắt mà cơ thể không hấp thụ được.
Riêng đối với phụ nữ thì lượng sắt của cơ thể bị mất nhiều hơn trong những kỳ kinh nguyệt, nhất là đối với người mang vòng tránh thai (thường bị mất nhiều máu hơn).

Đứa trẻ bị bệnh thường chậm lớn

Hiện tượng cơ thể bị thiếu đồng có thể làm rối loạn một số chức năng của cơ thể nhưng rất ít khi xảy ra.
Bệnh Menkès là một bệnh do di truyền, được phát hiện và mang tên người phát hiện là bác sĩ Menkès. Bệnh chỉ gặp ở các bé trai (1/35000 trẻ), có thể gây tử vong ở độ tuổi từ 6 tháng tới 3 năm. Đứa trẻ bị bệnh thường chậm lớn, bị rối loạn thần kinh, dễ bị nhiễm khuẩn huyết và viêm phổi. Khi xét nghiệm, người ta luôn nhận thấy lượng đồng ở màng nhầy của ruột rất cao, chứng tỏ ruột không hấp thụ được đồng vào máu nên cơ thể thiếu đồng.
Biện pháp chữa trị là tiêm (chích) các thuốc có chứa đồng vào dưới da, bắp thịt hay mạch máu người bệnh.
Trong những tháng đầu, trẻ sơ sinh chỉ ăn được sữa là chất chứa ít đồng, nên thường bị thiếu chất này. Những trẻ sinh thiếu tháng phải ăn sữa trong thời gian lâu hơn hoặc chỉ được nuôi bằng phương pháp tiêm chất dinh dưỡng vào tĩnh mạch lại càng bị thiếu và có những biểu hiện như xương mềm, dễ gãy, thiếu bạch huyết cầu, bị rối loạn ở da và đôi khi cả ở hệ thần kinh. Hiện tượng thiếu đồng nhẹ thường gặp ở các trẻ em từ 4 – 6 tháng tuổi được nuôi bằng sữa bò và hay bị đi tiêu chảy.
Hiện tượng cơ thể thiếu đồng ở người lớn thường chỉ gặp ở những gười bị trọng bệnh, không ăn được, được nuôi dưỡng trong thời gian dài bằng cách tiêm các thuốc thay chất dinh dưỡng vào tĩnh mạch.
Hiện tượng thừa chất đồng cũng gây ra những rối loạn trong cơ thể. Bệnh Wilson là một bệnh được bác sĩ Wilson xác định do cơ thể thừa chất đồng vào năm 1912, thường gặp ở trẻ em trai từ 5 – 15 tuổi, với tỷ lệ trung bình 1/150.000 trẻ em. Nguyên nhân do việc thải chất đồng của cơ thể không bình thường nên đồng bị tích tụ ở gan nhiều quá mức, truyền qua máu rồi tích tụ lại ở thận, não và mắt.
Thuốc trị bệnh tốt nhất là dd-penecillamine có tác dụng thu hút chất đồng, biến chúng thành những chất vô hai rồi dẫn tới thận để được lọc và thải ra ngoài qua đường tiểu tiện.
Hiện tượng nồng độ đồng trong máu tăng ở người phụ nữ đang dùng thuốc ngừa thai, đang mang thai hoặc do tác dụng của hoóc-môn sinh dục oestrogen hàng tháng là việc bình thường. Tuy vậy, đôi khi đây cũng là dấu hiệu cơ thể có điểm bị viêm, nhiễm hoặc ung thư.
Hiện tượng ngộ độc do ăn phải các muối đồng thường có biểu hiện nôn ói, đi tiêu chảy, màng nhầy của ruột bị loét.

Vai trò của đồng trong cơ thể

Bởi vậy, chúng ta cần phải hiểu biết về những nguyên tố vi lượng để sử dụng chúng thế nào cho có lợi cho sức khỏe của chúng ta.
Bốn con dao hai lưỡi
Đồng, sắt, mangan và flo là những nguyên tố vi lượng được coi như những con dao hai luỗi, do các mặt “bổ” và “độc”, “lợi” và “hại” của chúng cùng sẵn sàng thể hiện, tùy vào liều lượng thuốc sử dụng hoặc lượng nguyên tố có sẵn trong cơ thể con người.
Đồng (Cu)
Đồng có tên khoa học là Cuvrum, ký hiệu Cu, được một bác sĩ Hoa Kỳ, Dr.Hart, giới thiệu vào năm 1928 như một nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể động vật.
Ngoài tính bền và dễ uốn hoặc đổ khuôn, đồng còn là kim loại rẻ, dẫn nhiệt và điện tốt, chỉ kém bạc (Ag) và nhôm (Al).
Trong cơ thể người và động vật, không có đồng đơn chất. Lượng dồng trong thành phần các hợp chất ở người trung bình vào khoảng 100 mg (80 – 120 mg), thường là thành phần các axit amin hoặc các protein. Những hợp chất có đồng thường tập trung ở gan và não. Tỷ lệ đồng trong hồng huyết cầu vào khoảng 100 ug/100ml. Đồng được cơ thể hấp thụ ở dạ dày và ruột rồi được huyết tương và hồng huyết cầu chuyển tới các cơ và mô. Gan là bộ phận giữ lại nhiều đồng nhất để phân phối dần tới các điểm cần thiết. Đồng bị thải ra ngoài nhiều nhất theo đường tiêu hóa, 4% lượng đồng được hấp thụ bị thải ra theo nước tiểu.
Đồng có vai trò quan trọng trong nhiều hoạt động của cơ thể như : sản xuất hồng huyết cầu, chống stress, tổng hợp một số chất cần thiết cho một số bộ phận như chất elastine giúp cho các mạch dễ co giãn, chất myelin ở các dây thần kinh, tổng hợp hoóc-môn của một số tuyến nội tiết như tuyến giáp, tuyến thượng thận, hoóc-môn sinh dục nam và nữ. Đồng còn là thành phần của một số enzyme quan trọng có nhiệm vụ điều tiết các gốc tự do, tránh cho các tế bào khỏi bị oxy hóa, có mặt trong các màng bao bọc gân, vòm họng, cơ tim, gan, phổi, não, kiểm tra sức nén của oxy trong phổi để đề phòng hiện tượng ngạt hơi.
Nhu cầu về đồng của cơ thể, triệu chứng thiếu, thừa và ngộ độc đồng
Cơ thể người cần mỗi ngày từ 1,5 – 2,5 mg đồng. Lượng đồng được cung cấp qua các bữa ăn hàng ngày vào khoảng 3 mg, có 4% lượng đồng này sẽ bị thải ra ngoài theo đường tiêu hóa.
Lượng đồng trong 100g thực phẩm :
Loại thực phẩm
Lượng đồng (mg/100g)
Gan bê, cừu 15
Nghêu, sò 4 – 10
Gan bò, óc bò, heo 1
Tôm, cua, trứng cá 1
Lúa mì, gạo 1
Đậu tương 1
Hạt tiêu 1

Hiện tượng cơ thể thiếu lưu huỳnh

Một số thực phẩm chứa nhiều lưu huỳnh là : các loại hải sản, măng tây, củ cải đen, hành, tỏi, các cây và sản phẩm của cây có dầu, trứng, thịt.
Cơ thể những người ăn chay kéo dài (không ăn thịt lâu ngày), những người bị stress, bị bệnh do viêm nhiễm, sống nơi ô nhiễm, làm việc lâu ngoài ánh nắng,… đều dễ bị thiếu lưu huỳnh, do thiếu sự cung cấp hoặc các tế bào chứa lưu huỳnh bị phá hủy. Cơ thể thiếu lưu huỳnh có những biểu hiện như : chậm mọc tóc, móng tay và móng chân, khả năng chống sự oxy hóa của các tế bào kém, dễ bị các bệnh viêm nhiễm, dễ bị tích mỡ ở gan, lượng glutathione – một kháng độc tố, trong bạch cầu giảm. hiện tượng thiếu các aixt amin có chứa lưu huỳnh sẽ làm cho tế bào mau bị lão hóa. Các thuốc bổ sung lưu huỳnh cho cơ thể thường được các bác sĩ chỉ định dùng kèm với kẽm, vitamin B6 hoặc các thuốc chống oxy hóa để tăng thêm tác dụng.
Phần thứ ba
Những nguyên tố vi lượng
Bốn con dao hai luỡi
Bốn chàng hiệp sĩ
Những nguyên tố vi lượng khác
Bốn kim loại độc
Những nguyên tố vi lượng có thể là kim loại hoặc phi kim loại (á kim) có trong cơ thể chúng ta, ở dưới mức 10g. Riêng 4 nguyên tố sắt (Fe), kẽm (Zn), silic (Si), và đồng (Cu) đã chiếm tới 99% trọng lượng của những nguyên tố vi lượng trong cơ thể.
Những nguyên tố vi lượng tham gia vào cấu trúc tế bào (như kẽm trong insulin) hoặc cùng dự phần hoạt động (như sắt cùng chuyển vận oxy với hồng huyết cầu). Ngoài ra, chúng còn là những kích thích tố làm cho các bộ phận trong cơ thể hoạt động tốt.
Tuy nhiên, nếu không bị kiềm chế hoặc để cho chúng bị dư thừa thì những nguyên tố vi lượng này lại có thể gây tác hại cho sức khỏe con người. Thí dụ : sắt, đồng, mangan (Mn), fluo (F) đều có khả năng làm cho các tế bào mau bị lão hóa. Bởi vậy, các nhà khoa học thường khuyến cáo mọi người rằng các nguyên tố vi lượng là những con dao hai lưỡi. Thiếu chúng không được mà thừa chúng cũng không xong. Có những nguyên tố trở nên nguy hiểm khi cơ thể chúng ra chỉ dư một lượng rất nhỏ, trái với những nguyên tố rất “hiền lành” như kẽm, silic, crôm (Cr) và selenium (Se), phải dùng liều thật cao mới sợ có tác hại.
Có những nguyên tố như iốt (I), côban (Co), môlypđen (Mo) tham gia trực tiếp vào các phản ứng sinh hóa. Lại có một số nguyên tố mà tác dụng của chúng đối với cơ thể vẫn còn ở trong vòng bí mật : đó là vanadium (Va) và niken (Ni).

Vai trò của lưu huỳnh trong cơ thể

Lưu huỳnh (S)
Lưu huỳnh là một khi kim loại, đã được các nhà giả kim học biết tới từ thời cổ đại, nhưng mãi tới thế kỷ XVIII mới được hai nhà khoa học người Pháp là Antoine de Lavoisier (1743 – 1749) và Louis gay Lussac (1778 – 1850) giới thiệu đầy đủ các tính chất lý hóa của một nguyên tố hóa học cùng với ký hiệu là S.
Trong cơ thể, lưu huỳnh không ở dạng đơn chất mà chỉ là thành phần của các gốc sunfat trong các phân tử axit amin độc lập hoặc hợp nhất với các protein.
Những axit amin có S như methionine, cysteine, cysterine, taurine, thường có ở da, tóc, móng chân, móng tay, các chất nhầy, ở phần ngoài và cả ở bên trong các tế bào.
Trong cơ thể, S thường có vai trò như những cầu nối giữa các phân tử, tạo thành những lớp màng bao bọc các cơ, mô và các bộ phận của mọi cơ quan nội tạng. Trong xương, mạng lưới được tạo bởi chất keo collagen và lưu huỳnh là nơi các nguyên tố Ca, P và Mg tụ lại để tạo thành tế bào xương. Mùi khét tỏa ra từ móng tay, tóc, lòng đỏ trứng…. khi bị đốt cháy là do nhựng chất này có chứa nhiều lưu huỳnh.
Nhiều nhà khoa học cho rằng những gốc tự do không hoàn toàn chỉ có hại vì chúng cũng tham gia một số hoạt động sinh học của cơ thể. Chúng chỉ có hại khi nhiều quá mức mà cơ thể lại thiếu những trung tâm diệt trừ những gốc tự do thừa này. Những trung tâm khử độc này thường chứa những enzyme có khả năng sử dụng các tế bào có lưu huỳnh trong thành phần, để bảo vệ các chất chống oxy hóa và loại các chất có hại cho cơ thể, như chất taurine luôn đi tìm các chất có hại để bám vào, rồi dẫn chúng tới những điểm tạo phân để tống chúng ra ngoài.
Những tế bào có chứa S thường kết hợp với một số nguyên tố vi lượng như kẽm, selenium (Se), magiê và những vitamin có tính chống oxy hóa như vitamin A (beta-caroten), vitamin C, E, để bảo vệ các tế bào, giúp các tế bào phòng tránh sự nhiễm độc và sự lão hóa.
Những gốc sunfat (SO4-) cũng có tính chất này.
Nhu cầu về lưu huỳnh của cơ thể và nguồn lưu huỳnh trong tự nhiên
Nhu cầu mỗi ngày về các axít amin có lưu huỳnh của cơ thể vào khoảng 13 mg cho mỗi kg trọng lượng đối với nữ và 14 mg/1kg trọng lượng đối với nam. Nguồn lưu huỳnh của người là nước và các thực phẩm. Có một số nguồn nước khoáng trong tự nhiên chứa các muối sunfát.

Vai trò của phốtpho trong cơ thể

Phốtpho được nhà hóa học người Đức H.Brand phát hiện trong nước tiểu, vào năm 1699. Tới thế kỷ XVIII, nah2 hóa học Scheele đã tách được phốtpho ra từ xương súc vật.
P là nguyên tố đứng thứ 2 về lượng trong cơ thể sau canxi. Một người trưởng thành nặng hơn 70kg, có 700g P trong cơ thể; 80% lượng P này ở bộ xương, 10% ở trong các cơ bắp, 10% trong các cơ mô mềm dưới dạng các muối phốtphát, trong các protein và chất béo.
Cùng với canxi, P góp phần cấu tạo ra bộ xương ở dạng phốtphát – 3 canxi. P kết hợp với các chất mỡ để tạo thành màng các tế bào. P còn là thành phần của bộ pin sinh học để tạo ra năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động của cơ thể. Để thực hiện được vai trò của mình, P cần có sự trợ giúp của magiê. Mg điều khiển mọi sự chuyển hóa của phốtpho.
Nhu cầu về phốtpho của cơ thể
Các thức ăn hàng ngày thường cung cấp đầy đủ lượng P cho cơ thể con người. Thực phẩm nào có Ca thường cũng có P.
Lượng P tính ra miligam có trong 100g một số thực phẩm như sau :
Loại thực phẩm
Lượng phốtpho (mg/100g)
Phó-mát Gruỳere 600
Đậu tương (đậu nành) 580
Lòng đỏ trứng 560
Hạnh nhân 470
Hạt dẻ 400
Sô cô la 400
Đậu trắng 400
Phó-mát Roquefort 360
Gạo 300
Thịt gà 220
Thịt bò, cừu, ngựa 200
Cá 200
Thịt lợn (heo) 175
Phó-mát Camembert 139
Đậu Hà Lan 122
Bánh bít-cốt (bánh mì nướng) 110
Nấm 100
Hiện tượng thiếu, thừa phốtpho
Hiện tượng cơ thể người bị thiếu P đã thuộc về quá khứ. Ngày nay, với lượng thực phẩm dồi dào, cơ thể thường dư P, vì chúng ta hay ăn các loại thức ăn đã được chế biến để làm tiêu mỡ đi, như các đồ nguội : xúc xích, giăm bông, phó-mát, cá muối và các laoị nước giải khát có chất cola.
Những muối phốtphát có tác dụng hạn chế sự hấp thụ canxi của cơ thể, làm xương yếu đi dẫn tới bệnh loãng xương, rất dễ xảy ra ở phụ nữ. Trong trường hợp cần bổ sung thêm P, liều lượng P thường được các bác sĩ chỉ định như sau :
Đối tượng
Liều lượng (mg/ngày)
Trẻ sơ sinh 400
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 500
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 600
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 800
Trẻ em từ 13 – 19 tuổi 1000
Người lớn 800
Phụ nữ có mang hoặc đang cho con bú 1000
Người già 1000
Chú ý : khi dùng thuốc có phốtpho cần dùng theo đúng liều lượng do bác sĩ chỉ định, tránh để bị dư phốtpho.

Nhu cầu về clo của cơ thể

Những thuốc có muối Mg thường có tính nhuận tràng, làm người dùng bị tiêu chảy khiến cho Mg lại bị thải ra ngoài. Trước đây, người ta hay dùng Mg kết hợp với vitamin B6 để cố định Mg, nhưng nếu dùng lâu, nhất là với liều lượng cao, sẽ rất có hại cho hệ thần kinh (có nguy cơ gây bại liệt). Bởi vậy, hiện nay người ta thường dùng một axít amin không có tính độc – chất taurine, để phối hợp với Mg, thay cho việc dùng B6.
Clo (Cl)
Clo là một nguyên tố phi kim được ký hiệu là Cl ở dạng ion âm (Cl-) trong các dung dịch có muối clorua.
Cl- thường thay đổi môi trường khi qua lại 2 bên màng tế bào. CƠ thể người chứa vào khoảng 74g Clo, phần lớn ở bên ngoài các tế bào. Lượng Clo trong huyết tương nhiều gấp 10 lần lượng Clo trong tế bào.
Clo được nhà hóa học Scheele, người Thụy Điển, phát hiện năm 1744, được công nhân là một nguyên tố hóa học và đặt tên vào năm 1810 bởi 3 nhà khoa học gay Lussac, Thénard và Davy.
Vai trò của clo trong cơ thể
Clo là ion chính có mặt trong chất dịch ỏ bên ngoài tế bào, cùng với các ion Na+ và K+ tham gia vào việc phân phối nước và ổn định sự cân bằng giữa axít và bazơ trong cơ thể. Rất khó phân biệt rõ ràng tác dụng riêng của Cl- với Na+ trong những hoạt động sinh – hóa của cơ thể, trừ vấn đề tiêu hóa : trong dạ dày, ion Cl- kết hợp với ion H+ tạo thành chất dịch tiêu hóa axit clohydric (HCl).
Mỗi ngày, cơ thể chúng ta cần từ 1 – 2 g Clo và thường được cung cấp đầy đủ bởi thức ăn và muối ăn. Chúng ta thường ăn hơn 10 g muối mỗi ngày. Với lượng muối như thế, cơ thể đã được cung cấp lượng Clo nhiều gấp 3 lần so với yêu cầu 6g/ngày (1 gạt muỗng cà phê muối là 6g mưới; 1 gạt muỗng súp muối là 25 g muối, 1 g muối ăn chứa 0,6 g Clo và 0,4 g Na).
Triệu chứng thiếu, thừa Clo của cơ thể
Người bị bệnh tiêu chảy hoặc nôn ói ra nhiều dịch vị ccủa dạ dày có thể bị thiếu Clo nhưng không có triệu chứng gì đặc biệt.
Cơ thể bị mất nước trong một số bệnh về thận sẽ dẫn tới hiện tượng dư muối và dư Clo. Theo công trình nghiên cứu của một số nhà khoa học Nhật Bản thì hiện tượng cơ thể dư các muối clorua có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư dạ dày.
Phốtpho (P)
Phốtpho hay lân tinh là một phi kim loại có ký hiệu là P.