Month: July 2016

n nhiều rau, đậu, hoa quả có tác dụng tốt

Nổi nhiều có biến chứng mụn mủ hoặc nổi sần dày ngứa mới thực sự là bệnh.
Tùy nguyên nhân, tùy mức độ viêm mà thầy thuốc sẽ dùng thuốc chung hoặc tại chỗ cho thích hợp (kháng sinh, nội tiết tố, chống viêm, chống di ứng).
Thuốc Peroxyd benzoyl, chế phẩm vitamin A axit, Panoxyl…. Là những thuốc đang thịnh hành, nhưng cần có chỉ định, hướng dẫn, theo dõi chặt chẽ của thầy thuốc. Tiêm vitamin C tĩnh mạch không phải là phương pháp điều trị đặc biệt đối với trứng cá, không nên lạm dụng vì có thể gây tai biến choáng,
Tránh thói quen nặn, cậy trứng cá, dễ kích thích tăng viêm nhiễm, dễ lai sẹo thâm. Đối với trứng cá quang miệng, nếu nặn bừa bãi dễ thành đinh râu nguy hiểm. Nếu nhân đã già đen thì có thể nặn nhẹ hoặc dùng kim sát trùng khều ra, sau đó bôi thuốc sát khuẩn. Ăn nhiều rau, đậu, hoa quả có tác dụng tốt.
Theo đông y, có thể kết hợp dùng toa thuốc thanh lương giải độc, hoặc uống nước đậu đen rang. Theo kinh nghiệm dân gian, nên hạn chế ăn một số chất “tanh” dễ gây dị ứng như tôm, cua, mực, ốc, làm tăng trứng cá, tăng ngứa…
Xoa bóp da mặt có tác dụng điều hòa tuần hoàn, tăng cường dinh dưỡng tổ chức da. Sinh hoạt, lao động điều độ, ăn châm nhai kĩ, chống táo bón, tránh các chất kích thích, hạn chế đường, mỡ, thể dục thể thao thích hợp… có tác dụng tốt đối với trứng cá.
Bé gái, thanh thiếu nữ nên hết sức hạn chế dùng sữa rửa mặt, kem phấn, dễ gây và làm tăng trứng cá, nhất là ở tuổi dậy thì.
Vẩy nến
Vẩy nến là bệnh ngoài da thường gặp. Ở một số nước bắc u, Bắc Mỹ, tỷ lệ mắc bệnh này lên tới 2% hoặc hơn. Ở nước ta qua tài liệu của nhiều phòng khám bệnh da liễu, tỷ lệ bệnh vẩy nến chiếm 3 – 5% so với tổng số bệnh nhân đến khám.
Bệnh biểu hiện thành chấm, vết hoặc mảng nền viêm đỏ, phủ vẩy nhiều lớp dệ bong, màu trắng đục như xà cừ, như nến. Bệnh tiến triển từng đợt, hay tái phát, có khi dai dẵng nhiều năm.
Tùy triệu chứng lâm sàng, thường phân biệt vẩy nến thành nhiều thể: chấm, giọt, đồng tiền, mảng, đỏ da, mụn mủ, khớp… Thể chấm, giọt, đồng tiền hoặc mảng khu trú thành lành tính, không ảnh hưởng gì đến sức khỏe toàn thân, chỉ gây ngứa khó chịu, nhất là ảnh hưởng đến tâm lí bệnh nhân, trong quan hệ gia đình, xã hội. Vì vậy vầy nến thường được gọi là “bệnh của người khỏe”, nhưng là “bệnh xấu xí”. Các thể đỏ da, mụn mủ, viêm da thường kèm theo tổn thương nội tạng, tiên phát hoặc thứ phát.

Ở một số người tuyến bả hoạt động quá mạnh

Tuyến bả tiết ra chất bã nhờn gồm chủ yếu cholesterol và axit béo. Chất bã theo nang lông tản lên bề mặt da thành một màng mỏng như lớp quang dầu, gọi là phim bả (phim lipid). Màng này có tác dụng làm lớp sừng không ngấm nước, dẻo dai, mềm mại, đồng thời có khả năng chống đỡ với nhiều loại vi khuẩn, nấm mốc.
Ở một số người tuyến bả hoạt động quá mạnh, chất bã tiết ra quá nhiều, ứ đọng lại ở đầu lỗ nang lông, kết hợp với các tế bào sừng đã róc, tạo thành một nút nhỏ ở đầu lỗ nang lông, gọi là nhân trứng cá. Mặt (trán, má, cằm), vùng giữa ngực, giữa hai bả vai là nơi tập trung nhiều tuyến bả hơn cả (có đến 400 – 500 tuyến trên 1cm2). Từ dậy thì đến 25 – 30 tuổi là thời kỳ tuyến bả hoạt động mạnh nên cũng dễ bị trứng cá hơn cả. Nhân trứng cá vít đầu lỗ nang lông tạo môi trường thuận lợi cho một số vi khuẩn yếm khí phát triển gây viêm. Tùy mức độ viêm nhẹ, nặng, nông, sâu mà người ta phân biệt thành nhiều thể trứng cá, như trứng cá nhân, trứng cá sẩn là những thể nhẹ, giản đơn, chưa có biến chứng. Nếu có bội nhiễm cấp tính hoặc mạn tính sẽ thành trứng cá mụn mủ, trứng cá bọc, áp xe.
Nguyên nhân trứng cá khá phức tạp, có liên quan tới nhiều yếu tố thần kinh, tiêu hóa, nội tiết, nhất là tuyến sinh dục. Nội tiết tố nam tự do tăng nhiều, đọng lại ở tuyến bã, kích thích tuyến bã tăng tiết, vít kín đầu lỗ nang lông, làm cho nhiều loại tạp khuẩn tăng sinh, trong đó có Propiono bacterium acnes. Loại tạp khuẩn này càng phát triển, càng tiết ra một chất men gây viêm thành nang lông, càng làm vít đầu lỗ nang lông, tạo thành một vòng luẩn quẩn, làm trứng cá kéo dài mãi cho tới sau 25 – 30 tuổi mới tự nhiên giảm dần, dù không được điều trị.
Ngoài ra còn có những loại trứng cá gây nên do dị ứng với một số thức ăn, thuốc hoặc do tiếp xúc với một số hóa chất (dầu mỡ, nhựa đường). Những năm gần đây, bệnh trứng cá ở nữ giới có chiều hướng gia tăng, có lẽ có vai trò của nhiều loại mỹ phẩm không đảm bảo chất lượng.
Cần khám xét tỉ mỉ toàn diện mới xác định được nguyên nhân cụ thể của từng người. Người bệnh không nên vội vàng tự cho mình xấu máu, yếu gan, phong, lao, hoa liễu sinh ra bi quan, lo lắng, dẫn tới xử lí sai lầm, làm bệnh nặng thêm.
Vì nguyên nhân phức tạp nên điều trị còn khó khăn.
Nếu thỉnh thoảng chỉ nổi vài nhân trứng cá, nhất là ở nữ giới thời kỳ kinh nguyệt hoặc nam giới tuổi thanh xuan, thì coi như trứng cá sinh lí, không có gì đáng ngại.

Những Kinh nghiệm và thành tựu quý báu này của y học cổ truyền nên được thừa kế

Vì vậy khi thật cần thiết hãy nên dùng. Chẳng hạn viêm họng cảm cúm nhẹ chỉ cần xông hoặc súc miệng nước muối cũng có thể khỏi, không nhất thiết phải dùng kháng sinh. Hiện nay, trong Đông y đã có nhiều biện pháp điều trị dự phòng, không phải dùng thuốc có hiệu lực tốt (xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu, dưỡng sinh). Những Kinh nghiệm và thành tựu quý báu này của y học cổ truyền nên được thừa kế, phát huy, kết hợp với y học hiện đại.
Mặt khác, nhiều nhà nghiên cứu đã công nhận các dược phẩm lấy từ cây cỏ ít gây tai biến hơn là các hóa chất (tất nhiên phải do các thầy thuốc có tay nghề và lương tâm bảo đảm và chỉ định sử dụng).
Khi đã dùng thuốc phải nghiêm chỉnh tuân theo hướng dẫn của thầy thuốc về liều lượng, thời gian dùng, uống mấy lần trong ngày, trước hoặc sau bữa ăn, kiêng kỵ ra sao… không thể tùy tiện. Đối với một số thuốc, nhất là đối với bệnh nhân có cơ địa dị ứng lại càng phải có quy định chặt chẽ. Thử phản ứng da trước khi tiêm, định kỳ kiểm tra máu, chức năng gan, thận, nhằm phát hiện sớm những biến đổi bệnh lí có thể xảy ra. Bệnh nhân cũng phải biết tự phát hiện những biểu hiện sớm của dị ứng (mệt mỏi, khó chịu, nôn nao, nổi ban ngứa, gây sốt, nổi hạch…) để báo cho thầy thuốc kịp thời ngừng thuốc và xử lí. Nếu đã có một lần dị ứng thuốc, phải ghi rõ vào hồ sơ sức khỏe để sau này thầy thuốc và bản thân bệnh nhân tuyệt đối không dùng lại thuốc đó, vì phản ứng dị ứng càng về sau càng nặng.
Trên cương vị thầy thuốc, mỗi khi khám bệnh, kê đơn cần tự xác định trách nhiệm cao cả của mình, có thể giúp ích cho bệnh nhân, đồng thời có thể gây tác hại khôn lường cho họ nếu mình sơ suất. Vì vậy phải hết sức thân trọng, tỉ mỉ, cân nhắc đối với từng bệnh nhân, từng loại thuốc, không nên vì lợi nhuận mà “phẩy tay” kê nhiều thuốc thật không cần thiết, thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ theo dõi định kỳ đã quy định. Chú ý lắng nghe những than phiền của bệnh nhân, để có biện pháp xử lí kịp thời thích hợp.
Đối với trẻ em càng phải thận trọng khi dùng thuốc. Nhất thiết phải có chỉ định, theo dõi chặt chẽ của thầy thuốc chuyên khoa. Tuyệt đối không nghe lời mách bảo mà tự động dùng thuốc cho con, ngay cả những thuốc “thông thường”, hay “thuốc bổ”…
Trứng cá
Bình thường trên da, bên cạnh mỗi nang lông (kể cả râu tóc) đều có một chùm tuyến gọi tuyến bã.

Dự phòng dị ứng thuốc không phải dễ

Nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn tới tử vong do trụy tim mạch. Tai biến này thường gặp ở người có cơ địa dị ứng rõ (hen, mày đay, eczema, thể tạng) khi tiêm penicillin, sirepa, vitamin B1, Novocain, nhất là tiêm tĩnh mạch. Vì vậy đối với người đã có sẵn bệnh dị ứng, việc dùng thuốc bất cứ dạng nào cũng cần rất thận trọng.
Phản ứng muộn xảy ra sau vài ngày hoặc lâu hơn. Biểu hiện ngoài da thấy rõ, nhưng rất đa dạng, cần có thầy thuốc chuyên khoa mới chẩn đoán được sớm và chính xác (nhiều khi bệnh nhân cho là rôm, hoặc do nhiệt). Có khi nổi thành ban đỏ lấm tấm giống như sởi, rải rác khắp người, ngứa, sau đó róc vẩy da nhẹ. Hoặc thành sẩn nề ngứa kiểu mày đay. Hoặc thành ban đỏ phỏng nước sau đó nhiễm sắc. Nặng nhất trong loại này là hội chứng Lyell, gây đỏ da, róc da, phỏng nước, sau đó loét trợt rộng, nổi trên cơ thể, kể cả niêm mạc miệng họng, hậu môn. Thường kèm theo sốt cao, mê sảng, tổn thương hầu hết các nội tạng và ngũ quan (viêm gan, thận, phổi, cơ tim, mạch máu, tai mũi họng, mắt…) tỷ lệ tử vong lên tới 30 – 40%.
Nếu có sống sót cũng phải qua một quá trình điều trị, chăm sóc hộ lí lâu dài, vất vả.
Như vậy, dị ứng thuốc là một tai biến nhiều khi rất nguy hiểm, gây tổn thương ở hầu hết các cơ quan, từ ngoài da đến nội tạng. Cấp cứ và điều trị nhiều khi rất phức tạp, kéo dài, tỷ lệ tử vong không phải ít, nhất là đối với các phản ứng tức thì mà bệnh nhân ở xa cơ sở y tế.
Dự phòng dị ứng thuốc không phải dễ. Nhiều khi ngay cả bản thân thầy thuốc cũng không thể lường trước được phản ứng của từng bệnh nhân đối với một loại thuốc nào đó. Cụ thể, có trường hợp đã làm phản ứng da với penicillin trước khi tiêm thấy âm tính, nhưng khi tiêm vào bệnh nhân vẫn bị choáng. Dù sao nắm vững kiến thức và biện pháp dự phòng vẫn là điều cần thiết, chắc chắn sẽ giúp ta hạn chế được nhiều tai biến đáng lẽ không xảy ra.
Trước hết cần có quan niệm đúng đắn về thuốc. Như trên đã nói: thuốc là con dao hai lưỡi. Dù quý, dắt tiền bao nhiêu, thuốc vẫn là chất ngoại lai, chất lạ, bắt cơ thể phải chọn lọc, chuyến hóa, hấp thu, đào thải. Một số thuốc gây tác dụng phụ ở mức độ khác nhau, một số khác có thể trở thành kháng nguyên gây cảm ứng, tạo tiền đề cho dị ứng khi bệnh nhân dùng lại chính thuốc đó.

Chiết chất lỏng

Từ từ xiết chặt máy ép để chiết chất lỏng, sau đó bỏ xác thảo dược
Bố trí một máy ép nhỏ. Để túi lọc vào bên trong đúng cách. Rót hỗn hợp thảo dược này vào và thu lấy chất lỏng bằng một cái bình có tay.
Từ từ xiết chặt máy ép để chiết chất lỏng, sau đó bỏ xác thảo dược. Gạn vào chai thủy tinh sẫm màu bằng phễu. Đậy chặt bằng nút bần hoặc nắp xoáy, ghi nhãn và cất giữ.
Chế dạng mỡ
Thuốc mỡ chứa chất dầu và mỡ được đun nóng với các thảo dược. Không giống kem, chúng không chứa nước nhưng tạo thành một lớp riêng trên bề mặt da. Chúng bảo vệ cơ thể tránh bị tổn thương hoặc viêm nhiễm và có các thành phần dược tính, chẳng hạn như, các tinh dầu bôi vào chỗ bị bệnh. Thuốc mỡ có ích cho các bệnh, chẳng hạn như, bệnh trĩ hoặc nơi cần bảo vệ để tránh bị ẩm ướt gây hại, như môi bị nứt nẻ. Thuốc mỡ có thể được pha chế từ nhiều chất nền, nhưng chất nền đơn giản nhất là dầu hoặc chất sáp mịn. Tinh dầu có thể được khuấy trộn chung với hỗn hợp ngay trước khi lọc. Thuốc mỡ có thể được cất trong các bình thủy tinh màu sậm tới 3 tháng. Liều dùng tiêu chuẩn là thoa một ít vào vùng cần chữa trị ngày 3 lần.
Nấu tan 500g dầu trong một tô thủy tinh để trong một nồi chưng cách thủy. Cho vào 60g thảo dược khô hoặc 150g tươi cắt nhuyễn và sắc trong 15 phút, rồi khuấy đều. Rót hỗn hợp vào túi lọc hoặc vào một bình có tay.
Để cho chất lỏng lọc qua túi lọc. Mang bao tay cao su, vắt hỗn hợp thuốc mỡ thảo dược còn nóng càng nhiều càng tốt vào bình có tay.
Nhanh chóng rót thuốc mỡ còn lỏng vào lọ đã khử trùng trước khi nó đông lại trong lọ. Đậy nắp lại nhưng không vặn chặt. Khi nó nguội, vặn chặt nắp, ghi nhãn và cất giữ.
Chế dạng đắp
Thuốc đắp là một hỗn hợp thảo dược tươi, khô hoặc dạng bột được đắp vào vùng bị bệnh. Chế thuốc đắp mất rất ít thời gian và được dùng để làm giảm căng thẳng thần kinh hoặc giảm đau cơ, bong gân hoặc gãy xương và rút mủ khỏi các vết thương bị làm độc, chỗ lở loét hoặc mụn nhọt. Bột cây du trơn trộn lẫn với cúc vạn thọ hoặc rượu thuốc để chế thuốc đắp trị mụn nhọt.
Sắc vừa đủ thảo dược để đắp lên vùng bị bệnh trong 2 phút. Vắt bỏ bớt chất lỏng, thoa 1 ít chất dầu vào vùng bị bệnh để tránh bị dính và đắp thảo dược còn nóng ấm.
Băng thảo dược bằng cách dùng mảnh gạc hoặc vải cài lại bằng ghim băng. Để thuốc đắp này trong 3 giờ. Cứ 2 – 3 giờ đắp thuốc 1 lần khi cần.

Parkinson

Bệnh liệt rung (Parkinson) đã được tìm thấy hiện tượng suy kiệt chưa giải thích được về một hóa chất quyết định trong não gọi là dopamine; nhưng cũng có một bệnh giống như bệnh liệt rung là do những tế bào não tiết ra dopamine bị phá hủy bởi hóa chất của một số dược phẩm. Bạn hãy hình dung một bệnh nhân bị loại bệnh liệt rung này đã vào giai đoạn nặng cử động bị co cứng. Cố bước đi, nhưng bệnh nhân chỉ đi được một, hai bước, rồi đơ ra như một bức tượng.
Tuy nhiên, nếu bạn vạch một đường trên sàn nhà và nói “Bước qua đi” thì người này, thật kì diệu, có thể bước qua được ngay. Dù thực tế là sự tiết dopamine là hoàn toàn không thể tùy ý và mức dự trữ chất này dường như bị cạn kiệt (như đã thể hiện qua việc não của bệnh nhân này không thể gửi tín hiệu đến cơ chân để đi tiếp một bước nữa), chỉ cần có ý định bước đi là não được đánh thức. Người này có thể lại bị co cứng chỉ sau vài giây, nhưng rồi bạn lại có thể yêu cầu người đó bước qua một vạch kẻ tưởng tượng, và não của người đó lại đáp ứng. Suy ra, tình trạng yếu ớt và kém hoạt động được thấy ở nhiều người già thường chỉ thấy là tình trạng ngủ. Bằng cách hồi phục lại ý định sống tích cực, sống có mục đích, thì nhiều người già có thể cải thiện một cách đáng ngạc nhiên những khả năng vận động, sức mạnh, sự nhanh nhẹn, và những đáp ứng về tinh thần của họ.
Ý định là một kiểu chú ý tích cực; đó là cách để chúng ta chuyển các quá trình vô ý thức thành các quá trình có ý thức. Chỉ cần thực hiện những bài tập tinh thần – thể chất đơn giản, hầu như bất kì bệnh nhân nào cũng có thể tham gia một vài khóa học để chuyển đổi nhịp tim quá nhanh, cách thở khò khè của bệnh hen, hoặc sự lo âu thất thường thành một đáp ứng bình thường hơn. Với kỹ thuật đúng cách thì những gì tưởng như ngoài tầm kiểm soát đều có thể đưa về trạng thái kiểm soát được. Những điều liên quan đến quá trình lão hóa thật là nhiều. Bằng cách đưa một ý định vào quá trình tư duy của bạn như “Tôi muốn được cải thiện về năng lượng và khí lực hằng ngày” thì bạn có thể bắt đầu khẳng định sự kiểm soát các trung tâm này của não, chúng quyết định sẽ được cung cấp bao nhiêu năng lượng trong hoạt động. Sự suy yếu khí lực ở tuổi già chủ yếu là kết quả của những người đang trong tâm trạng chở đợi sự suy yếu đó; họ đã vô tình nuôi dưỡng một ý định đánh bại chính mình với một niềm tin mạnh mẽ, và mối quan hệ tinh thần – thể chất sẽ tự động thực hiện ý định đó.

Nhiều bệnh nhân, nhất là nữ, mách nhau tiêm vitamin C tĩnh mạch cho “mát da”

Tại sao dị ứng thuốc ngày càng trở nên phổ biến như vậy? Có nhiều nguyên nhận phức tạp, nhưng rõ ràng nhất là các hóa chất sử dụng trong dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm ngày càng nhiều. Trên hè phố các hàng thuốc mỡ ra nhan nhản, gia đình nào, cá nhân nào cũng dễ dàng có sẵn thuốc trong tay. Mặt khác, nhân dân cũng được trang bị thêm nhiều kiến thức về y dược, mặc dù nhiều khi chưa cặn kẽ. Từ đó xảy ra trường hợp nhiều người bị bệnh tự động dùng thuốc, làm tăng tình trạng cảm ứng, tạo tiền đề cho dị ứng thuốc.
Nhiều loại thuốc khi mới ra đời chỉ thấy mặt lợi về tác dụng điều trị, nhưng với thời gian sau ngày càng bộc lộ tiềm năng độc hại. Điển hình là penicillin, ban đầu người ta không ngớt lời ca ngợi tác dụng diệt khuẩn của nó, nhưng ngày nay peniciliin trở thành một trong những thứ thuốc hay gây dị ứng nhất.
Ngày này, với hơn 25000 hóa chất sử dụng trong y học, danh mục các thuốc có tiềm năng gây dị ứng ngày càng mở rộng. Thông thường nhất là: thuốc kháng sinh (penicillin, streptomycin, cloroxit, sunfamit), thuốc hạ nhiệt, giảm đau (aspirin, pyramidon, paracetamon, butadion), thuốc an thần, gây ngủ, gây tê (luminal, gardenal, novocain), thuốc chữa phong lao, sốt rét (rimifon, DDS, nivakin)… Ngay cả nhiều loại thuốc bổ, vitamin, kể cả thuốc bổ Đông y với người có cơ địa dị ứng cũng có thể gây tai biến dị ứng, nhiễm độc…
Tiêm, uống, bôi, xông, nhỏ… ở dạng nào thuốc cũng có thể gây dị ứng, nhưng nhanh nhất và nguy hiểm nhất vẫn là theo đường tiêm tĩnh mạch. Nhiều bệnh nhân, nhất là nữ, mách nhau tiêm vitamin C tĩnh mạch cho “mát da” để chữa nám má, trứng cá. Thực là nguy hiểm, thực tế đã xảy ra những tai biến dẫn tới tử vong.
Triệu chứng dị ứng thuốc rất đa dạng, sớm hoặc muộn, cục bộ hoặc toàn thân, mức độ và tiên lượng khác nhau.
Nếu do thuốc bôi ngoài da thì gọi là viêm da dị ứng. tại chỗ nổi ban đỏ mụn nước, ngứa, bệnh nhân gãi nhiều, bị trợt da dễ thành nhiễm khuẩn thứ phát hoặc nổi ban dị ứng rải rác nhiều nơi trên cơ thể.
Bôi, nhỏ, uống, tiêm, truyền đều có thể gây dị ứng. Nhưng tiêm, truyền thường gây triệu chứng nặng và biểu hiện toàn thân rõ hơn. Thường chia thành hai loại là phản ứng sớm (tức thì) và phản ứng muộn (trì hoãn).
Phản ứng sớm xảy ra chỉ vài phút hoặc vài giờ sau khi thuốc vào cơ thể. Biểu hiện thành một hội chứng choáng gọi là choáng phản vệ (sốc anaphilacxi). Bệnh nhân vật vã, khó thở, tái tím, toát mồ hôi lạnh, mạch nhanh và nhỏ, huyết áp hạ dần.

Nhiễm độc dị ứng thuốc

Nếu thấy nổi ban đỏ, sẩn ngứa, gia đình nên cho em đến khám kịp thời ở thầy thuốc chuyên khoa.
Thuốc là những thành tựu rất đáng quý, tích lũy từ lao động trí óc và chân tay của bao thế hệ nhà nghiên cứu và kỹ thuật viên. Một số thuốc do các nhà bác học nổi tiếng phát minh, trong lĩnh vực điều trị cũng như dự phòng, đã được coi là cứu tinh của nhân loại. Các dược phẩm quý báu này đã giúp giảm tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, tăng sức khỏe và tăng tuổi thọ,giúp phòng chống, khống chế hoặc thanh toán được nhiều bệnh hiểm nghèo, từng bị coi là nan y (phong, lao, cổ lại) hoặc là nỗi kinh hoàng của loài người qua bao thế kỷ (dịch hạch, tả, thương hàn, đậu mùa, phong, giang mai…)
Như người ta thường nói, thuốc là con dao hai lưỡi, có thể cứu người cũng có thể gây tác hại khôn lường, cho những ai sử dụng tùy tiện, không đúng bệnh hoặc không theo hướng dẫn của thầy thuốc.
Ngoài những tác dụng phụ, những ảnh hưởng xấu ở mức độ khác nhau đối với nội tạng, nội tiết, ngũ quan, thần kinh, chuyển hóa, miễn dịch, di truyền… tác hại thường gặp và đáng sợ nhất là tai biến dị ứng (còn gọi là nhiễm độc dị ứng thuốc).
Dị ứng thuốc là một quá trình phản ứng khá phức tạp trong cơ thể. Một thứ thuốc nào đó đối với người bình thường chỉ có tác dụng tốt hoặc đôi khi chỉ gây tác dụng phụ không đáng kể, thoáng qua. Nhưng đối với người có cơ địa di ứng, nhạy cảm, sau khi tiêm, uống, bôi, qua quá trình hấp thu và chuyển hóa sẽ trở thành chất lạ (kháng nguyên hay dị ứng nguyên). Trước sự xuất hiện của kháng nguyên, sớm hoặc muộn cơ thể sẽ sản xuất ra những chất chống lại, nhằm bao vây, trung hòa hoặc tiêu diệt chất lạ đó (gọi là kháng thể). Thời gian từ khi kháng nguyên vào cơ thể đến khi sản xuất ra kháng thể gọi là thời gian cảm ứng. Nếu tiếp sau đó kháng nguyên lai xuất hiện trong cơ thể, nghĩa là người bệnh lại dùng lại thuốc trước, sẽ xảy ra phản ứng đối kháng kháng nguyên – kháng thể cường độ mạnh hoặc nhẹ tùy từng trường hợp. Phản ừng đò goi là dị ứng (phản ứng khác thường, khác với người khác và khác với lần trước).
Tai biến dị ứng thuốc ngày càng phổ biến và không chừa trẻ nhỏ, trở thành mối lo lắng cho các thầy thuốc ở mọi chuyên khoa. Theo tài liệu của nhiều tác giả, hiện nay 10 – 12% dân số đã bị cảm ứng với một hoặc nhiều loại thuốc và cứ 100 người bị bệnh dị ứng thì có đến 10 người do dùng thuốc.

Thử phản ứng của da với chất khả nghi

Theo quy ước, những đợt đầu trong vòng 1 – 2 tháng gọi là mày đay cấp. Ngoài 4 – 8 tuần gọi là mày đay mạn. Nặng có thể kèm theo đau quặn bụng, nổi hạch phát sốt. Mày đay khu trú ở một vùng nào đó (hay gặp ở mặt làm mặt sưng vù), cộm, cứng, ngứa, vừa phải, gọi là phù Quinck. Phù Quinck ở mặt có thể gây phù nề thanh quản, nếu không xử lí kịp thời có thể dẫn tới tử vong do suy hô hấp cấp.
Theo Tây y, mày đay là một bệnh do dị ứng, nghĩa là một phản ứng đặc biệt của da đối với những yếu tố kích thích nào đó, lạ hoặc dộc hại cho cơ thể. Mày đay có thể gặp ở mọi lứa tuổim kể cả trẻ nhỏ.
Những yếu tố kích thích có thể là thời tiết: lạnh, nóng, gió… bất thường (có người mùa đông khi ra lạnh thì mặt, bàn tay, thậm chí khắp mình ngứa râm ran, nổi ban đỏ…) Một số thức ăn như tôm, cua, cá biển, nhất là cá ngừ, cá nục, nhộng, mực, da gà, lòng lợn, trứng…. với người “không quen ăn” có thể gây mày đay. Ngay cả một số thuốc như thuốc hạ nhiệt, thuốc khớp, penicillin, cũng có thể gây phản ứng mày đay nặng hoặc nhẹ ở một số bệnh nhân “không chịu được”.
Muốn tìm nguyên nhân mày đay, thầy thuốc phải điều tra kỹ tiền sử dùng thuốc, ăn uống, môi trường sinh hoạt (có khi mày đay do ngửi phải phấn hoa, lông thú, bụi bậm trong nhà). Nếu cần phải xét nghiệm dị ứng, thử phản ứng của da với chất khả nghi.
Muốn điều trị tận gốc mày đay, phải hoàn toàn trừ bỏ yếu tố gây bệnh. Nếu không chỉ là chữa triệu chứng, cắt cơn mày đay bằng các thuốc như: kháng histaminn, Phenergan, dimedrol, chlorpheniramin, Zyrtec, Claristin…), nếu cần dùng ccocticoit (Prednisolon, Cortancyl…) hoặc kháng sinh kết hợp.
Chống táo bón, tẩy giun sán, điều trị các ổ nhiễm khuẩn khu trú (viêm tai mũi họng, viêm đại tràng mạn…) có tác dụng tốt.
Người bị mày đay do lạnh cần hết sức thận trọng khi đi tắm sông, tắm biển. Đề phòng bị chuột rút đột ngột, nếu không có ai giúp dỡ, cấp cứu kịp thời sẽ rất nguy hiểm.
Bệnh nhân mày đay cần được chẩn đoán, theo dõi lâu dài ở phòng khám chuyên khoa (nhất là đối với phù Quinck). Không nên tự động dùng thuốc, kể cả tiêm K.cort, dễ bị tai biến.
Điều trị bằng Đông y, các đơn thanh lương giải độc có tác dụng tốt; uống nước đậu đen rang, ăn mướp đắng có lợi cho việc điều trị bệnh.
Đối với trẻ em, sau vài giờ hoặc vài ngày dùng thuốc (hạ nhiệt, kháng sinh…), hoặc sau bữa ăn có tôm, cua, nhộng, mực…

Tổ đỉa lòng bàn tay có thể là biểu hiện của dị ứng với độc tố nấm kẽ chân ( nước ăn chân)

Một số tổ đỉa chỉ gây róc da đơn thuần, gọi là tổ đỉa khô, có thể do rối loạn hấp thu vitamin A, C, B.
Tổ đỉa có thể kèm theo á sừng (dày sừng, nứt nẻ, nhất là về mùa đông), hoặc ra nhiều mồ hôi tay chân. Có liên quan tới yếu tố di truyền, nguyên nhân phức tạp hơn.
Cũng như đối với eczema điều trị tổ đỉa không dễ dàng. Phải tìm được nguyên nhân để loại trừ. Hai yếu tố nhiễm khuẩn và dị ứng luôn kết hợp. Nếu có nhiễm khuẩn phụ sưng tấy nổi hạch đau ở nách, bẹn, phải dùng kháng sinh toàn thân kết hợp thuốc chống dị ứng (cocticoit, kháng histamine).
Tùy mức độ nhiễm khuẩn ít hay nhiều, tổn thương khô hay chảy nước, thầy thuốc sẽ chỉ định các thuốc bôi thích hợp; sát trùng (nitrat bạc, thuốc tím pha loãng, thuốc màu), mỡ kháng sinh, kem cocticoit với nhiều loại biệt được như: Cidermex, Diproson, Cloroxit H… nếu có liên quan tới nấm kẽ, phải điều trị nấm kẽ kết hợp. Nếu có nguyên nhân rối loạn hấp thu vitamin cần cho thêm vitamin với liều lượng cần thiết.
Về phía bệnh nhân cần thực hiện giữ gìn vệ sinh, phòng bệnh như sau:
Tránh bóc vẩy, chọc nhể mụn, nhẹ nhàng khi rửa tay chân, không làm xây xước các mụn để tránh nhiễm khuẩn, nhiễm nấm thêm. Đừng nghĩ rằng phải kỳ thât4 sạch tổn thương, rửa thật sạch lớp thuốc cũ để bơi lớp mới; làm như vậy vết trợt càng khó lành, không thể hình thành lớp da non.
Tránh tiếp xúc với xăng, dầu mỡ, xà phòng, vôi vữa, nước bẩn. Nếu phải tiếp xúc cần đeo gang bảo vệ. Nếu là bệnh nghề nghiệp thì phải tìm cách chuyển công tác.
Nếu có liên quan tới nấm kẽ, trong khi dùng thuốc điều trị nấm, phải lươn giữ khô kẽ chân, là kỹ tất, năng phơi nắng giầy dép, cắt gọn móng chân…
Trên đây chỉ là một số kiến thức cơ bản cần biết về bệnh tổ đỉa. Đối với từng trường hợp, nhất thiết phải đến khám ở thầy thuốc chuyên khoa để được chẩn đoán và hướng dẫn điều trị dự phòng chính xác, thích hợp và hiệu quả.
Mày đay
Mày đay là một loại ban ngứa, nổi từng đợt, thành những nốt sần đỏ, nề, hơi cao hơn mặt da, ở giữa màu hơi bạc. Sẩn rải khắp người hoặc chi chit thành đám, thành mảng rộng vằn vèo. Càng ngứa, càng gãi, sẩn càng nổi dày. Mỗi đợt kéo dài 2 – 3 ngày, nhưng có khi liên tiếp hết đợt này đến đợt khác làm bệnh nhân mất ăn mất ngủ.