Bởi vậy, sự thiếu Cr của cơ thể có thể dẫn tới các bệnh về tim mạch và bệnh tiểu đường. Ngược lại, bệnh tiểu đường cũng có ảnh hưởng làm giảm sút lượng Cr vì bị thải ra ngoài theo nước tiểu. Việc dùng thuốc có Cr hoặc ăn chất men rượu bia có chứa hợp chất của Cr sẽ làm bệnh tiểu đường thuyên giảm, đồng thời hạ được cả lượng cholesterol trong máu.
Bệnh béo phì thường liên quan tới chứng xơ cứng động mạch vành và chứng nhồi máu cơ tim. Việc dùng thuốc có Cr có tác dụng làm giảm cân nhẹ, tránh được một số bệnh về tim mạch như cao huyết áp, loạn nhịp tim và cả những phản ứng phụ của thuốc ngừa thai.
Cr có nhiều trong men rượu bia và trong mật mía, nhưng 90% đã bị mất đi trong quá trình sản xuất bia và nấu đường. Ngoài ra, Cr còn có trong gan động vật, bơ, các chất gia vị. Thịt, rau, quả chứa ít Cr, từ 50 – 120 ng/g [1 ng (nanogam = 1.10^(-9) g)]
Mỗi ngày, cơ thể chỉ cần khoảng 4 ug Cr lấy từ thức ăn. Trong trường hợp cần bổ sung Cr cho cơ thể, bác sĩ thường chỉ định theo liều lượng sau :
Đối tượng
Lượng Cr (ug/ngày)
Trẻ sơ sinh từ 1 – 6 tháng 10 – 40
Trẻ em từ 6 – 12 tháng 20 – 60
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 20 – 80
Trẻ em từ 3 – 6 tuổi 30 – 120
Trẻ em trên 6 tuổi 50 – 200
Những vận động viên thể thao, người ăn nhiều chất ngọt, người bị tiểu đường, có nhu cầu về Cr cao hơn những người khác.
Tính độc của chất “crôm sinh học” (crôm trong động thực vật) không đáng kể nên hiện tượng gia tăng nồng độ Cr trong máu ở những người có bệnh tiểu đường không có gì đáng lo ngại, crôm điều chế từ các quặng mỏ kim loại thì có tính độc cao hơn. Sự nhiễm độc do bụi crôm và các muối crômát có thể gây tổn thương nặng ở phổi và đường hô hấp. Các dung dịch crômát, bicrômát và axít crômic có thể gây dị ứng hoặc loét da, mắt và màng nhầy ở mũi, thường gặp ở những người làm việc tại các nơi có hóa chất.
Sêlen (Se)
Sêlen có tên khoa học là Selenium, ký hiệu Se, được nhà hóa học Thụy Điển là Berzeliu phát hiện vào năm 1817, mới đầu chỉ được biết như một nguyên tố kim loại có tính độc.
Hơn một thế kỷ sau, nhờ công trình của nhiều nhà khoa học khác, Se mới nổi lên như một nguyên tố có nhiều tính chất quý, đặc biệt là khả năng chống lại các gốc tự do, bảo vệ các tế bào tránh sự lão hóa và được mô tả là một nguyên tố gần với lưu huỳnh (S).

Comments are closed.