Pranendriya liên hệ mật thiết với hơi thở, theo khoa học Yoga thở thường có 4 nhịp : hít vào (púraka), ngưng thở (kumbhaka), thở ra (recaka) và ngưng thở ra (sunyaka). Trong thời hít vào và thở ra pranendriya ở trang thái nhanh và giãn nở. Còn ở thời kỳ ngưng thở pranendriya ở trạng thái co và nghỉ ngơi. Khi hơi thở nhanh và không đều, pranendriya ở trạng thái hoạt động và thời kỳ ngưng thở thì ngắn, và như vậy tri giác sẽ không rõ ràng và trí óc bị xáo trộn. Còn khi hơi thở chậm, sâu và đều, thời kỳ ngưng thở lâu hơn, pranendriya yên lặng. Trong trạng thái tập trung tư tưởng sâu, hơi thở trở nên chậm lần, chậm lần.
Y khoa phương Tây bắt đầu nhận thực được sự liên hệ chặt chẽ giữa tốc độ thở và tình trạng tâm lý. Những thí nghiệm cho thấy sự thay đổi nhịp thở tương ứng không chỉ với sự thay đổi nhịp tim mà còn tương ứng với sự thay đổi điện thế trên bề mặt của não khi có sự kích thích từ bên ngoài. Thêm vào đó, những khoa học gia khám phá thấy nhịp thở cũng còn liên hệ sâu xa với tính tình. Thí nghiệm trên một người đang tập trung tư tưởng, bác sĩ nhận thấy trạng thái tập trung tư tưởng có đặc tính là nhịp thở giảm đi đáng kệ, gây ra một tạng thái gia tăng sự đề kháng của da – một tình trạng tương đương với trạng thái giảm sự lo âu.
Bác sĩ Peter Steincrohn khám phá thấy nhiều bệnh nhân của ông ta ở trạng thái lo âu đều có nhịp thở cạn và nhanh. Bác sĩ Steincrohn gọi đó là thở quá độ. Nhiều người khổ sợ vì lo âu là do thở quá độ mà không nhận ra nó. Họ thở quá độ một cách vô thức với hơi thở nhanh và cạn khi bị căng thẳng. Họ thở dài và ngáp. Họ than vãn : “Dường như tôi không thở tốt được như trước đây”.
“Tôi đã giúp cho nhiều người hay lo lắng bằng cách chỉ cho họ cách thở. Lo âu và hơi thở đã liên hệ chặt chẽ với nhau, cho nên khi chữa cái này thì cải thiện được cái kia. Nhiều người đã bỏ dùng thuốc an thần, thuốc ngủ, hay một loại thuốc trấn an sau khi họ đã học cách thở thế nào gọi là bình thường.
Trong một thí nghiệm, bác sĩ Steincrohn tìm thấy là ông có thể gây nên một tình trạng lo âu nghiêm trọng và các cơn sợ hãi bằng cách cho một trong các bệnh nhân của ông thở thật nhanh và cạn, sau đó nếu người ấy thở đều lại và sâu hơn, lo âu và sợ hãi sẽ biến mất.
Trong trạng thái đó những rung động từ bên ngoài được tiếp nận và ghi lại rõ ràng trong óc như sự phản chiếu mặt ao yên tĩnh và phẳng lặng. (bài trước)

Comments are closed.