Người lớn (nam) 2,2
Người lớn (nữ) 2,0
Phụ nữ mang thai hoặc nuôi con bằng sữa mẹ 2,5
Người cao tuổi 2 – 2,2
Dùng đúng liều lượng, vitamin B6 không gây phản ứng phụ
Tuy vậy, nếu dùng quá liều hoặc liều mạnh trong nhiều tháng liền (trên 250mg/ngày), có thể bị viêm dây thần kinh
Vitamin B8 (còn gọi là vitamin H hay biotine)
Vitamin B8 được tìm thấy năm 1931 bởi nhà sinh-hóa học Gyưrgyi, trong quá trình nuôi các con chuột thí nghiệm bằng lòng trắng trứng. Gyưrgyi cho rằng đây là một loại vitamin đặc biệt cần thiết cho da, bởi vậy vitamin này còn được là vitamin H (do từ Haut trong tiếng Đức có nghĩa là da). Mãi tới năm 1942 người ta mới điều chế được vitamin này bằng phương pháp tổng hợp.
Vitamin B8 tan trong nước và các dung dịch kiềm, ít tan trong dung dịch axít và các chất dịch hữu cơ.
Tuy chịu được nhiệt độ cao, nhưng các thực phẩm cũng bị mất từ 10 – 40% vitamin B8 sau khi được đun nấu để làm thức ăn.
Nguồn vitamin B8 trong tự nhiên
Vitamin b8 có trong các tế bào động vật và thực vật, có nhiều ở gan, lòng đỏ trứng, quả cật (bầu dục) của súc vật. Trong cơ thể người, vitamin B8 được ruột non hấp thụ qua quá trình tiêu hóa thức ăn, được máu đưa tới mọi tế bào, được dự trữ ở gan và thải ra ngoài qua đường tiểu tiện.
Sau đây là lượng vitamin B8 được tính bằng microgam (ug) có trong 100g thực phẩm (ug/100g) :
Men bia 90
Nấm, cải hoa (xúp lơ) 20
Thịt gà 10
Đậu hạt 10 – 18
Trứng (cả lòng trắng và lòng đỏ) 12 – 15
Cà rốt, cà chua (tô-mát) 3 – 7
Gạo đã làm sạch 4 – 6
Thịt cừu 6
Thịt lợn (heo) 5
Sữa bò 2 – 5
Sôcola 2 – 3
Phômai (phó – mát) 1,8
Nước cam 0,5 – 1,5
Táo 1
Sữa mẹ 0,8
Cá biển 0,1 – 0,3
Nhu cầu vitamin B8 của cơ thể người
Vitamin B8 có trong mọi loại thực phẩm. Cơ thể người chỉ cần một lượng nhỏ vitamin B8 nên rất ít người bị bệnh vì thiếu vitamin này. Nhu cầu vitamin B8 đối với trẻ em là từ 50 – 90 ug/ngày. Với người lớn từ 100 – 300 ug/ngày.
Do vitamin B8 hấp thụ CO2 trong cơ thể, tham dự vào việc tổng hợp các chất béo, một số các axít amin, chất đường, nên sự thiếu hụt vitamin này cũng gây ra một số rối loạn về thần kinh (ngất, co cơ), về tiêu hóa (nôn ói, chán ăn), về da (lông mày, lông mi thưa) viêm da, đặc biệt ở vùng quanh miệng, mắt, lỗ mũi, hậu môn, vùng mông, cổ, móng tay và quanh móng tay, móng chân.

Comments are closed.