Category: Tin tức làm đẹp

Hướng dẫn sử dụng sách

Hướng dẫn sử dụng sáchBạn có thể tìm thấy lời khuyên về cách giữ gìn cơ thể khỏe mạnh và tránh những việc có thể nguy hại
Cuốn sách này đề cập đến mọi khía cạnh của vấn đề sức khỏe phụ nữ. Chăm sóc sức khỏe tốt chỉ là một phần nhỏ của nội dung cuốn sách, trọng tâm chính được đặt vào những trục trặc có thể xảy ra trong cơ thể và phải làm cách nào để chẩn đoán và chữa trị được chúng.
Khi xem lướt qua bạn cũng thấy rõ là sách này không phải chỉ viết về các “bệnh phụ nữ” mà còn về các vấn đề khác nữa. Trên thực tế, tất cả các chứng bệnh và rối loạn mà cuốn sách lý giải đều là những bệnh mà chỉ có hoặc chủ yếu là phụ nữ mắc phải, những bệnh mà đàn bà có phản ứng khác so với đàn ông, những bệnh hiện nay được phụ nữ quan tâm nhiều hơn trước (như AIDS hay bệnh tim chẳng hạn), và bất cứ chứng bệnh nào mà tôi tin tưởng là phụ nữ sẽ đặc biệt chú ý tới.
Cuốn sách này được chia làm 3 phần chính:
Phần thứ nhất, “Cơ thể người phụ nữ lành mạnh”, là một bản hướng dẫn có hình ảnh minh họa về cơ thể của bạn và cách thức mà cơ thể hoạt động. Trong phần này bạn có thể tìm thấy lời khuyên về cách giữ gìn cơ thể khỏe mạnh và tránh những việc có thể nguy hại đến sức khỏe. Bạn sẽ thấy rằng biết được cơ thể hoạt động thế nào khi đang hoàn toàn khỏe mạnh là một điều rất hữu ích một khi nó có gì trục trặc.
Phần thứ hai, “Tra cứu từ A đến Z các triệu chứng, các vấn đề sức khỏe, và cách chữa trị tất cả các loại bệnh của phụ nữ”. Những đề mục hướng tra cứu trong phần này như “Kinh nguyệt có vấn đề” có thể trợ giúp cho việc định hướng khi bạn không biết chính xác mình bị bệnh gì, chỉ biết khu vực không ổn ở đâu một cách chung chung. Các mục này một mặt đề cập đến những vấn đề liên quan đến các bộ phận cơ thể. Mặt khác cũng dùng để giới thiệu tất cả những chứng bệnh lây truyền bằng đường sinh dục chẳng hạn. Các phần này được đưa vào cùng 1 đề mục để bạn có được một cái nhìn tổng quát và hiểu được dây mơ rễ má của vấn đề.
Cũng trong phần tra cứu từ A đến Z là những xét nghiệm và cách thức được sử dụng để chẩn đoán và chữa trị nhiều chứng bệnh. (Khoản này bao gồm những “xét nghiệm không lan tràn” như kỹ thuật soi cổ tử cung và cách điều trị bằng phẫu thuật như phẫu thuật cắt bỏ tử cung chẳng hạn). Bằng cách điểm qua những lý do để thực hiện chúng và khám phá được điều gì chắc hẳn sẽ xảy tới, bạn sẽ biết được điều gì đang chờ đợi bạn, nếu bạn ở trong tình huống ấy.

Những căng thẳng xấu trong tâm lý

Những căng thẳng xấu trong tâm lýThân thể khỏe mạnh là cơ sở tâm lý khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh cũng thúc đẩy cơ thể khỏe mạnh
Một mặt nào không tốt (yếu kém, thương bệnh) cũng ảnh hưởng tới các mặt kia. Khi mắc bệnh về sinh lý thì người ta thường cũng dễ buồn chán, cáu bực, … Còn lúc suy nghĩ căng thẳng dễ kém ăn, mất ngủ, nhức đầu, mệt mỏi. Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu để những cảm xúc âm tính (lo âu, run sợ, thất vọng,…) kéo dài sẽ dẫn đến bệnh hoạn về sinh lý.
Khổng Tử thọ 73 tuổi khi tuổi thọ trung bình đương thời chỉ là 30. Theo ông, mỗi độ tuổi có yêu cầu dinh dưỡng khác nhau. Người ta nên nhớ câu “Tri túc thường lạc” (biết đủ thường vui vẻ) để tránh bệnh và tăng tuổi thọ. NCT càng cần tránh lòng tham.
Theo một thống kê y học, có tới 76% người mắc bệnh là do những nguyên nhân căng thẳng, xấu về tâm lý. Một nhà lão khoa sống được lâu đã tâm sự: “Trong tất cả những hình ảnh bất lợi với con người thì cái làm cho người ta dễ chết non và yểu nhất chính là những tâm tình xấu và ác tính”.
Ngoài ra, thân thể khỏe mạnh lại là cơ sở tâm lý khỏe mạnh. Và ngược lại, tâm lý khỏe mạnh có tác dụng thúc đẩy cơ thể khỏe mạnh. Từng người bình thường dễ tự nghiệm thấy: Động lực mạnh nhất của sức khỏe tâm thể con người là sức mạnh tâm tình. Người nào biết tự điều chỉnh tốt tâm tình, luôn giữ được trạng thái phấn khởi, yêu đời sẽ có thể phòng tránh được nhiều bệnh, mà có bệnh thì cũng chống khỏi hơn.
Do đó, 2 khía cạnh của sự khỏe mạnh trên liên quan mật thiết và thúc đẩy lẫn nhau. Người khỏe mạnh thường có sức sống, tinh lực dồi dào, quan sát và tư duy nhạy bén, hành động tích cực. Nếu ta biết giá trị của sức khỏe thân thể, luôn chú trọng rèn luyện thân thể và đảm bảo dinh dưỡng, nghỉ ngơi, hoạt động cần thiết sẽ có thể chủ động điều khiển tối ưu quá trình chuyển hóa trên. Mặt khác, trong quá trình khắc phục những khó khăn trong rèn luyện thân thể cũng có thể dùng điều chỉnh tâm lý để thư giãn, khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
Câu 88. Tác dụng của rèn luyện thân thể với tâm lý như thế nào?
Có thể khái quát trên 3 khía cạnh:
Giúp nâng cao và duy trì độ ứng kích tâm lý tương đối cao. Ứng kích tâm lý là một số phản ứng đặc thù phát sinh khi cơ thể bị một số tác động mạnh về vật lý, hóa học, sinh vật… và cả tâm tình biến hóa khi chưa sản sinh những tổn hại bệnh lý đặc dị. Ai có trình độ này càng cao thì có thể tránh những nhân tố ngoại giới cần ứng kích cần thiết thì cũng giữ được những kích thích chung có hại cho sức khỏe.

Luyện tập tránh sưng phổi

Luyện tập tránh sưng phổiTừng người nên căn cứ vào đặc điểm của mình mà chọn tập theo 1 – 2 kiểu; mỗi ngày 2 lần
Thở ngồi: ngồi thẳng, 2 khuỷu tay hơi cong, 2 bàn tay đặt trên bụng, dùng mũi hít vào đồng thời phồng bụng lên, 2 tay mở ra theo. Sau đó từ từ thở ra bằng mồm, trở về tư thế ban đầu.
Đứng thở: đứng dạng chân rộng bằng vai, 2 khuỷu tay hơi co, 2 bàn tay cũng đặt trên bụng, mũi hít vào, bụng phồng lên, đồng thời 2 tay mở ra tạo với thân thành góc 45 độ. Sau thở ra bằng miệng, trở về tư thế ban đầu, thân trên hơi gập.
Thở trong hành tiến: đi từ từ, 2 tay hơi bắt chéo trước người, mũi hít vào, bụng phồng ra, đồng thời 2 tay vươn mở ra gần bằng ngang vai. Sau lại từ từ thở ra bằng mồm, 2 tay trở về vị trí ban đầu.
Từng người nên căn cứ vào đặc điểm của mình mà chọn tập theo 1 – 2 kiểu; mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20 – 30 phút ở nơi thoáng mát. Chỉ cần tập đều khoảng nửa năm, công năng hô hấp sẽ được cải thiện khả quan. Người tập có thể tự đánh giá sự tiến triển theo 3 cách sau:
Thử nghiệm leo thang gác đã được định sẵn về độ cao và độ dài. Tập xong tự so sánh về cảm giác, trước hết qua hô hấp.
Thử nghiệm thổi nến: đặt 1 ngọn nến đang cháy trước mặt, hít vào hết sức rồi cố thổi cho tắt được ngọn lửa, ghi lại cự ly từ miệng thổi đến ngọn nến. Sau tập luyện một thời gian, có thể đặt ra xa hơn chút ít, rồi lại cố thổi tắt. Nếu dần nhích được xa hơn thì chứng tỏ dung tích sống của người tập có tiến triển.
Đo vòng ngực: dùng một thước dây vòng ngang qua ngực (vú), rồi hít vào hết sức, kế đến đo ghi vòng ngực (V). Sau đó lại thở ra hết sức, lại đo và ghi vòng ngực lần sau (v). Sau đó đem 2 số đo lần trước (V) và lần sau (v) trừ đii nhau. Hiệu số càng lớn công năng phổi càng lớn.
Đo vòng bụng: động năng làm phồng bụng lên có liên quan đến công năng hô hấp. Dùng một thước dây đo vòng ngang quanh bụng qua rốn, cũng tìm hiệu số giữa 2 vòng bụng giống cách trên. Đương nhiên hiệu số càng lớn, đàn tính cơ hoành càng cao và sức hô hấp càng mạnh.
Câu 82. Người trúng phong, bị bại liệt nửa người nên tập như thế nào?
NCT mắc bệnh này thường gặp nhiều trở ngại về công năng cho nửa thân người và đương nhiên rồi cũng cho toàn thân. Theo kinh nghiệm, biểu hiện của bại liệt nửa người trong thời kỳ phát tác cấp tính tương đối nghiêm trọng. Nếu biết trị liệu sẽ đỡ dần và ổn định.

Đậu hũ teriyaki

Đậu hũ teriyakiNếu như bạn thích tỏi nướng, hãy thử loại tỏi chế biến kiểu này. Để nướng một củ tỏi: dùng kéo nhà bếp cắt đầu núm tỏi, cho tỏi vào giấy gói kim loại, rưới khoảng 1/2 muỗng canh cà phê dầu ôliu lên trên, gói củ tỏi lại và cho vào lò nướng ở 375 độ khoảng 30 phút. Khi nguội, ép lấy các nhánh tỏi ra (chúng sẽ mềm) cho vào món ớt đậu hũ cùng với cà chua và các gia vị khác.
Đậu hũ teriyaki
Làm món này thường xuyên sẽ thành ghiền. Nếu mỗi ngày ăn một khẩu phần đậu hũ sẽ có ích cho bạn, chỉ một công thức làm món này có thể chịu đựng qua được thời kỳ mãn kinh. Chỉ cần cứ một vài ngày làm một đợt.
14 oz đậu hũ miếng
6mch. nước tương lạt
1mcp. dầu mè
1mcp. hạt mè
2 mch. đường
1/2 chén cộng với 2 mch. nước táo ép
1 tép tỏi, đập dập hoặc bằm
1 mcp. gừng tươi, bằm nhuyễn (hoặc ¼ mcp. gừng xay)
Cắt dọc đậu hũ thành 10 miếng.
Dùng một tô nhỏ, trộn các thành phần còn lại để làm xốt teriyaki. Đổ nước xốt vào khay nướng 9 x 9 inch.
Xếp các miếng đậu hũ vào xốt. Lật các miếng đậu hũ lại để thấm lớp xốt. Nướng từ 5 tới 10 phút, sau đó lật đậu hũ lại và nướng thêm 5 tới 10 phút nữa (làm 4 phần ăn).
Lưu ý: Dọn đậu hũ ăn với bánh mì, cơm thố hoặc bánh qui giòn.
Mỗi phần ăn: 135 calorie, 8,5g protein, 13g carbohydrate, 6g chất béo, 0g chất béo bão hòa, 0mg cholesterol, 1,5g chất xơ, 770mg natri. Calorie từ chất béo: 37%.
Vitamin A: 9 RE, Vitamin C: 1mg, Vitamin E: 0mg, Calcium: 121mg, Axit folic: 16mcg.
Bữa sáng đậu hũ đặc biệt
2mcp. dầu canola
6 oz đậu hũ mềm
1mcp. tỏi, bằm hoặc cắt nhỏ
1/2 mcp. xô thơm xay
Tiêu để nêm
1/3 chén hành cắt nhỏ (tùy chọn)
1 chén rưỡi khoai tây hành xay hiệu Ore-Ida Country Style đã rã đông.
3/4 chén rau bina ướp lạnh đã rã đông (vắt sơ cho bớt nước)
3/4 chén nước thay trứng Egg Beaters
Phun lớp dầu canola lên chảo chiên không dính dày, lớn.
Cho đậu hũ, tỏi, xô thơm, tiêu và hành vào nấu vừa lửa cho tới khi đậu hũ và hành vừa bắt đầu vàng.
Cho khoai tây hành xay (tất cả) vào, tiếp tục nấu, thường xuyên khuấy đều, cho tới khi chín hơi vàng. Cho rau bina và thứ thay trứng vào. Tiếp tục khuấy cho tới khi trứng chín đều. Dọn ăn với xốt cà chua nấm nếu muốn (làm 2 phần ăn).
Mỗi phần ăn: 252 calorie, 20g protein, 26g carbohydrate, 9g chất béo, 1g chất béo bão hòa, 0mg cholesterol, 4,5g chất xơ, 222mg natri. Calorie từ chất béo: 30%.
Vitamin A: 562 RE, Vitamin C: 20mg, Vitamin E: 2mg, Calcium: 262mg, Axit folic: 102mcg.

Phong bất định, phong củ ít lây, gọi là phong kín

Phong bất định, phong củ ít lây, gọi là phong kínCần nghĩ tới phong khi có vùng da bạc màu, teo ,khô, rụng lông, mất cảm giác đau, nóng, lạnh, sờ (tê dại), hoặc có u đỏ sần sùi ở mặt, vành tai, hoặc có triệu chứng bàn tay teo óp, khèo rụt ngón út và ngón đeo nhẫn, hoặc loét ở lòng bàn chân, rụng lông mày, sụp sống mũi, tổn thương giác mạc, đi cà nhắc.
Phong bất định là phong chưa ổn định, có thể chuyển thành thể nhẹ hoặc nặng hơn.
Phong củ là phong ổn định, biểu hiện sức đề kháng tốt.
Phong trung gian là phong đang chuyển thể sang phong ác tính.
Phong ác tính là phong năng nhất, biểu hiện tình trạng miễn dịch suy giảm nhất, dễ lây nhất, do đó còn gọi là phong mở.
Cũng may là các thể phong mở chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng số các thể phong.
Trước đây người ta chưa biết rõ bệnh phong, nên thường sợ lây quá mức. Đã có quan niệm cho rằng chỉ cần đi qua mộ người phong, thậm chí dẫm chân lên bóng người phong là có thể bị lây. Từ đó có thái độ xa lánh, hắt hủi, có khi đối xử tàn bạo với người phong (thả trôi sông, chôn sống, thả vào rừng cho thú dữ ăn thịt). Ngày nay khoa học đã khẳng định, bệnh phong tuy là bệnh lây nhưng tính chất lây rất hạn chế. Cụ thể chỉ có các thể phong mở mới có thể lây, nhưng phải tiếp xúc lâu dài hàng tháng, hàng năm, nhất là trẻ em 5 – 10 tuổi dễ bị sây sát da và sức đề kháng còn non kém. Càng lớn tuổi, sức đề kháng ổn định, khả năng bị lây càng ít. Ngay cả ở các cặp vợ chồng có người bị phong, tỷ lệ gây bệnh chỉ ở mức 3 – 5%.
Mặt khác BH ra ngoài trời chỉ sống thêm 1 – 2 giờ. Nhiệt độ cao, xà phòng, thuốc sát trùng thông thường đủ để diệt trực khuẩn phong. Không có phong di truyền hay phong bẩm sinh, vì BH không qua được màng rau. Có một người mẹ bị phong nặng, nếu sau khi lọt lòng được đem nuôi dưỡng ngay nơi khác, sẽ không bị lây bệnh từ mẹ. Trong gia đình có bố hoặc mẹ bị phong, chỉ có trẻ em dưới 10 tuổi mới cần uống thuốc phòng bệnh phong, còn người lớn không cần uống vì ít cảm thụ với trực khuẩn phong.
Trên thế giới đã có nhiều nước đạt tiêu chuẩn thanh toán bệnh phong, nhất là ờ châu âu, châu mỹ, oxtraylia. Tổ chức chống phong quốc tế đang tập trung chỉ đạo chương trình phòng chống tiến tới thanh toán bệnh phong ở các nước châu Phi và Châu Á.

Bệnh phong

Bệnh phongBỗng nhiên thấy trên da đầu có đám trụi hết tóc, da nhẵn, hình tròn hoặc bồ dục. dần dần có thể lan rộng, vằn vèo như hình rắn lượn, hoặc sau đó bị rụng toàn bộ tóc, kể cả lông mày, râu, lông nách, lông mu (gọi là trụi tóc toàn bộ). Nguyên nhân của loại rụng tóc này chưa rõ. Có thể liên quan tới xúc cảm tâm thần kinh (suy nghĩ, lo lắng nhiều). hoặc có ô nhiễm khuẩn khu trú ở tai mũi họng. Gần đây có tác giả cho là do cơ chế tự miễn. Điều trị chủ yếu bằng thuốc an thần, kết hợp với các thuốc tăng cường dinh dưỡng tóc. Theo kinh nghiệm dân gian, nặn tinh dầu vỏ bưởi, vỏ chanh, hoặc bôi cồn trắc bạch diệp, cồn hạt đậu miêu vào chỗ rụng tóc có tác dụng tốt cho tóc mọc.
Mấy năm gần đây, hiện tượng rụng tóc liên quan tới thuốc nhuộm tóc, uốn sấy tóc quá nhiều, hoặc do lạm dụng dầu gội có độ tẩy gầu cao ngày càng trở nên phổ biến. Da đầu mất hết lớp mỡ bảo vệ để chống đỡ với nấm, vi khuẩn, càng làm cho tóc rụng nhiều thêm. Muốn chữa loại rụng tóc này, chủ yếu phải thực hiện chế độ gội đầu hợp lí. Nhuộm tóc, uốn sấy tóc chỉ có lợi phần nào về thẩm mỹ nhưng cần đề phòng những tác hại cho tóc như làm tóc vàng hoe, giòn, dễ gãy, bị chẻ thành tua ở đầu ngọn tóc, thậm chí gây viêm da, viêm chân tóc, chốc lở da đầu.
Bệnh phong (phung, cùi, hủi) là một loại bệnh ngoài da lây truyền và bệnh xã hội lớn ở nước ta. Trước đây những năm 90 của thế kỷ trước, tỷ lệ mắc bệnh so với dân số khoảng 2% ở các tỉnh phía Bắc và 4 – 5% ờ các tỉnh phía Nam, Tây Nguyên. Gần đây, do kết quả của chương trình phòng chống bệnh phong do Viện Da liễu Trung ương chỉ đạo, tỷ lệ đã giảm xuống dưới 1%; một số xã, huyện, đã đạt được chỉ tiêu thanh toán bênh phong. Tuy nhiên ở một số vùng ở miền Nam, Tây Nguyên còn phải cố gắng nhiều mới đạt được chỉ tiêu thanh toán.
Tác nhân gây bệnh phong là trực khuẩn Mycobacteriun Peprae, do Hansen tìm ra năm 1873 (còn gọi là trực khuẩn Hansen, viết tắt là BH).
Biểu hiện rất đa dạng, tùy theo phản ứng và khả năng đề kháng, miễn dịch của cơ thể, thường phân biệt thành bốn thể chính: phong bất định, phong củ, phong trung gian, phong ác tính.
Muốn chẩn doắn phong, thầy thuốc chuyên khoa phải căn cứ vào triệu chứng lâm sàng (da, thần kinh, toàn thân), nhất lán xét nghiệm tìm trực khuẩn Hansen (BH) ở tổn thương da và niêm mạc mũi, kẽ cả xét nghiệm giải phẫu.

Một số thể rụng tóc thường gặp

Một số thể rụng tóc thường gặpVì vậy mỗi khi thấy có biến đổi bệnh lí ở lưỡi cần đến khám sớm ở thầy thuốc chuyên khoa để được chẩn đoán và hướng dẫn điều trị đúng đắn, sẽ có kết quả tốt và tránh được tai biến do bản thân mình gây ra.
Bình thường trên da đầu có khoảng 100000 – 150000 sợi tóc. Trước tuổi dậy thì, mật độ trung bình là 400 sợi trên 1cm2, sau dậy thì còn 200 sợi trên 1cm2. Mỗi sợi tóc tồn tại được 3 – 5 năm. Trong suốt đời người, mỗi nang tóc có thể mọc và rụng tới 20 lần. Tốc độ mọc của mỗi sợi tóc khoảng 0,35mm/ngày. Mỗi ngày tóc rụng dưới 60 sợi là bình thường, chỉ khi nào rụng từ 60 – 100 sợi mỗi ngày mới là hiện tượng bệnh lí.
Có nhiều nguyên nhân gây rụng tóc. Thông thường nhất là sau các bệnh nhiễm khuẩn, ký sinh trùng, virus, gây sốt cao kéo dài (sốt rét, cúm, thương hàn, sốt xuất huyết), sau khi đẻ,sau một lần phẫu thuật lớn, hoặc sau một chấn đông thần kinh mạnh. Mốt sô thuốc ức chế miễn dịch, chống cường giáp trạng, tránh thai, vitamin A, chiếu tia X quang ở vùng da đầu cũng có thể gây rụng tóc hàng loạt. Đối với những loại rụng tóc này chỉ cần sau khi khỏi bệnh, được ăn uống bồi dưỡng, nghỉ ngơi một thời gian thì tóc dần dần hồi phục như bình thường.
Người có tạng da mỡ (da dầu) cũng thường bị rụng tóc tiệm tiến, lan tỏa, nhất là vùng đỉnh đầu, dần dần thành “hói”. Chứng rụng tóc này có tính di truyền, có thể xuất hiện từ sau 30 – 35 tuổi. Nhiều khi kèm theo trứng cá ở mặt, lưng, ngực. thể tạng da mỡ (da dầu) gây rụng tóc chưa rõ nguyên nhân, chỉ mới thấy hiện tượng tăng dẫn xuất hormone nam xung quanh nang tóc bị teo. Rụng tóc da đầu chỉ gặp ở nam giới. Đối với hiện tượng rụng tóc này nên thực hiện chế độ gội đầu: thưa, loãng, nhẹ như đã nói ở trên, để hạn chế rụng tóc (nghĩa là 3 – 5 ngày gội một lần bằng nước gội pha loãng đễ giảm độ tẩy gầu và không cào vò quá mạnh khi gội làm chấn thương lên chân tóc). Dùng vitamin B5, dexpanthenol (Be1panthine), vitamin H (Biotin, Minoxidil…) là những thuôc có tác dụng tăng cường tuần hoàn dinh dưỡng ở da đầu, giúp cho sư phát triển của tóc. Tuy nhiên kết quả cũng thất thường, không chắc chắn.
Có một loại rụng tóc thường gặp ở trước tuổi thanh niên, khá đặc biệt, gọi là “trụi tóc từng vùng” (alopecia areata). Nhiều khi bản thân bệnh nhân không tự biết mình có bệnh, vì không có càm giác gì ở da đầu và bệnh xuất hiện rất đột ngột.

Lưỡi bản đồ

Lưỡi bản đồNguồn lây nấm Candida có thể từ mẹ (mẹ bị nấm Candida ở vùng sinh dục, tay ô nhiễm làm lây sang con trong lúc cho ăn uống).
Trẻ bị tưa cần được khám sớm ở thầy thuốc nhi khoa hoặc da liễu để được chẩn đoán chính xác và hướng dẫn điều trị thích hợp. nếu bị nhẹ chỉ cần dùng các loại thuốc bôi chống Candida (các chế phẩm chống nấm phổ rộng nhóm imidazole – glycerin hoặc mật ong borat – fungizone…). Nhưng nếu nặng cần uống thêm kháng sinh chống Candida albicans (Nizoral, Ketoconazol, Lamisil). Những thuốc này nhất thiết phải có chỉ định và hướng dẫn theo dõi của thầy thuốc.
Biểu hiện bằng lưỡi mất gai, rõ nhất ở phần trước, nền lưỡi bóng nhẵn. Trên mặt lưỡi có đám hình vằn vèo không đều, ranh giới rõ, như nét vẽ trên bản đồ, thay đổi hằng ngày. Không gây cảm giác gì đặc biệt, trừ phi bị nhiễm Candida albicans, rải rác có vết bự trắng.
Bệnh lành tính, nguyên nhân chưa rõ, nếu có nấm men Candida chỉ là nhiễm thứ phát.
Cần đi khám thầy thuốc chuyên khoa để được chẩn đoán, phân biệt với mãng lưỡi trụ gai trong giang mai bẩm sinh ở trẻ em.
Về điều trị, nếu không bị nhiễm Candida thì không có thuốc dì đặc hiệu, gia dình không nên tự động cho bé dùng kháng sinh, nhiều khi thêm hại.
Chỉ cần giữ vệ sinh răng, miệng. Thầy thuốc có thể cho bôi một số thuốc sát khuẩn thông thường (tím gentian, cồn axit salicylic 1%, axit tricloracetic 20 – 30%).
Nhiều trường hợp trẻ em lớn lên có thể tự nhiên khỏi.
Lưỡi nút
Lưỡi bị nứt thành từng đường dọc, độ sâu ít hoặc nhiều không phải do thiếu vitamin, do vi khuẩn hay virus, hay do “nọc” giang mai như một số bà mẹ thường lo lắng, mà chỉ là một trạng thái bẩm sinh của lưỡi, chưa rõ nguyên nhân.
Bình thường không ảnh hưởng gì tới sức khỏe chung, trừ những lúc bị viêm tấy, trở ngại ăn uống.
Hiện nay chưa có phương pháp điều trị hữu hiệu.
Chủ yếu là giữ gìn vệ sinh sao cho các vết nứt không bị nhiễm khuẩn, nhiễm men mốc thứ phát. Sau mỗi bữa ăn súc miệng bằng nước muối loãng hoặc nước borat 5% để sát trùng, đánh răng trước khi ngủ. Đối với trẻ nhỏ phải dùng gạc sạch tẩm các dung dịch trên lau lên lưỡi, lợi cho bé. Tránh các thức ăn nóng, có gia vị cay chua.
Tình trạng lưỡi nứt có khi kéo dài nhiều năm cho tới khi trưởng thành.
Thực tế ở môi, lưỡi và miệng của trẻ em cũng như của người lớn còn có nhiều loại bệnh khác nhau, triệu chứng đa dạng, khó chẩn đoán cũng như điều trị.

Bệnh tưa lưỡi

Bệnh tưa lưỡiHiện tượng mồ hôi màu thường gặp nhất ở vùng nách. Mồ hôi tiết ra có thể có màu xanh, đen đỏ, vàng làm hoen ố áo lót, do trong mồ hôi có những chất tạo sắc tố lúc ra khí trời bị oxy hóa và đổi màu (như pioxianin, indican), gây nên mùi khó chịu.
Đây là một rối loạn chức phận tiết mồ hôi kèm theo rối loạn chuyển hóa một số chất trong thành phần mồ hôi. Vì đâu sinh ra những rối loạn đó? Y học hiện nay chưa giải thích được rõ ràng. Tuy nhiên, bên cạnh nguyên nhân do rối loạn chuyển hóa, rối loạn giao cảm, còn có thể có vai trò của một số nấm và vi khuẩn (tụ cầu trắng, lepotric…).
Ra mồ hôi màu, không gây ảnh hưởng gì tới sức khỏe, nhưng thường phiền phức vì gây mùi khó chịu (hôi nách) ảnh hưởng tới tâm lí bệnh nhân trong quan hệ gia đình, xã hội. Bệnh tiến triển khá dai dẳng, có thể lây cho người tiếp xúc gần gũi do dùng chung khăn mặt, áo lót. Bé gái đến tuổi dậy thì, có thể bị hôi nách.
Điều trị còn khó khăn, chủ yếu là giữ vệ sinh da, năng tắm giặt, là kỹ áo lót trước khi mặc. Điều trị toàn thân như trong chứng tăng tiết mồ hôi.
Điều trị tại chỗ, có thể xoa phấn rôm (gồm axit boric 3g, tanin 3g, bột talc 50g, kẽm oxit 50g). Lau nách ngày 2 – 3 lần bằng dung dịch urotropin 10%, nước giấm thanh, thuốc tím pha loãng, xoa bột phèn phi có tác dụng tốt.
Bệnh nhân không nên tự động bôi thuốc, nhất là các thuốc có thể gây viêm da, kích thích (như ASA, BSI), vì vùng da nách mỏng, nhạy cảm, rất dễ bị lở loét. Tránh dùng chung áo lót, khăn mặt với người bệnh.
Một số bệnh ở lưỡi trẻ em
Trẻ em thường bị một số bệnh ở lưỡi sau:
Trẻ sơ sinh, kể cả thiếu niên, nhất là trẻ suy dinh dưỡng thường bị bệnh này. Bắt đầu nổi một vài điểm trắng, đường kính 2 – 3 mm ở viền phía trong môi, lợi, trên lưỡi hoặc phía trong má, dần dần lan rộng, có khi thành tảng dày trên lưỡi, trong má. Trẻ em bị tưa nặng sẽ lười bú, lười ăn, vì luôn có cảm giác đau rát ở lưỡi, miệng, Lâu ngày vết tưa có thể lan xuống họng, phế quản, phổi gây viêm ùn tắc, nặng có thể nhiễm vào máu, gây tử vong.
Lấy chất tưa xét nghiệm trực tiếp thường thấy Candida albicans, một loại men mốc thường tạp sinh ở miệng, họng, vùng sinh dục nữ. Trong điều kiện suy dinh dưỡng, sức đề kháng của trẻ bị suy giảm, nấm Candida sẽ tăng sinh và trở thành gây bệnh.

Tăng tiết mồ hôi

Tăng tiết mồ hôiTrên da chúng ta có khoảng 2 – 5 triệu tuyến mồ hôi, trung bình 200 – 300 tuyến trên 1cm2. Lòng bàn tay, bàn chân có khoảng 500 – 600 tuyến trên 1cm2.
Đối với người lớn, trung bình mỗi ngày có thể ra 1 – 2 lít mồ hôi. Ở người lao động chân tay nặng nhọc, lượng mồ hôi ra hằng ngày có thể tăng nhiều.
Nếu trong điều kiện bình thường mà mồ hôi tiết ra quá mức trên thì gọi là chứng tăng tiết mồ hôi không rõ nguyên nhân (tiên phát). Tăng tiết mồ hôi trong cơn sốt rét, cúm, thương hàn, hoặc sau những chấn thương ở tủy sống… thì gọi là tăng tiết mồ hôi thứ phát.
Tăng tiết mồ hôi không rõ nguyên nhân (tiên phát) có thể là toàn thân hoặc chỉ ở vài vùng như trán, nách, lòng bàn tay, chân. Tuy không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, nhưng trở ngại không ít đến sinh hoạt, học tập, lao động hằng ngày. Đã có học sinh học đàn violon phải bỏ học do chứng tăng tiết mồ hôi ở bàn tay, mồ hôi tay ra nhiều làm hoen ố cả vở viết.
Những lúc bệnh nhân phải tập trung tư tưởng hoặc bị xúc cảm mạnh, mồ hôi càng ra nhiều, có khi chảy thành giọt. Ra nhiều mồ hôi tay, chân thường kèm theo róc da hoặc nổi mụn nước sâu ở lòng bàn tay, chân giống như bệnh tổ đỉa. Có thể kèm theo chứng á sừng (Đông y gọi là thấp thở). Bàn tay, bàn chân ra nhiều mồ hôi là điều kiện thuận lợi đế nấm da, nấm kẽ. Candida phát triển. Bệnh nhân bị ra mồ hôi nhiều ở lòng bàn chân thường rất khó chịu, vì mùi hôi khi đi giày tất lâu, thậm chí có khi gây nên chứng rỗ chân, hà chân.
Nguyên nhân tăng tiết mồ hôi còn nhiều điều chưa rõ, nhưng chắc chắn là có liên quan tới rối loạn thần kinh.
Tùy theo kết quả khám xét, thầy thuốc chỉ định cho bệnh nhân dùng các thuốc thích hợp, nhất là thuốc có tác dụng an thần, điều hòa hoặc ức chế giao cảm (Probanthin, Atropin, Belladon). Có thể bôi tại chỗ hoặc ngâm tay, chân vào các dung dịch có tác dụng sít da, giảm tiết mồ hôi (urotropin, tanin, formalin, clorua, ammonium…)
Có khi phải dùng đến các phương pháp cắt bỏ hoặc phóng bế bằng cồn hoặc nước sôi các hạch giao cảm cổ – lồng ngực do các thầy thuốc phẫu thuật thần kinh tiến hành.
Điều trị bằng Đông y, đơn thanh lương giải nhiệt có lá dâu tằm đã mang lại kết quả tốt cho một số bệnh nhân, nhất là ở trẻ em.
Người lớn tuổi bị tăng tiết mồ hôi nên hạn chế các chất kích thích (cà phê, thuốc lá, rượu, chè đặc), sinh hoạt lao động điều hòa, giữ trạng thái thần kinh thoải mái.