Category: Tin tức làm đẹp

Đậu hũ teriyaki

Đậu hũ teriyakiNếu như bạn thích tỏi nướng, hãy thử loại tỏi chế biến kiểu này. Để nướng một củ tỏi: dùng kéo nhà bếp cắt đầu núm tỏi, cho tỏi vào giấy gói kim loại, rưới khoảng 1/2 muỗng canh cà phê dầu ôliu lên trên, gói củ tỏi lại và cho vào lò nướng ở 375 độ khoảng 30 phút. Khi nguội, ép lấy các nhánh tỏi ra (chúng sẽ mềm) cho vào món ớt đậu hũ cùng với cà chua và các gia vị khác.
Đậu hũ teriyaki
Làm món này thường xuyên sẽ thành ghiền. Nếu mỗi ngày ăn một khẩu phần đậu hũ sẽ có ích cho bạn, chỉ một công thức làm món này có thể chịu đựng qua được thời kỳ mãn kinh. Chỉ cần cứ một vài ngày làm một đợt.
14 oz đậu hũ miếng
6mch. nước tương lạt
1mcp. dầu mè
1mcp. hạt mè
2 mch. đường
1/2 chén cộng với 2 mch. nước táo ép
1 tép tỏi, đập dập hoặc bằm
1 mcp. gừng tươi, bằm nhuyễn (hoặc ¼ mcp. gừng xay)
Cắt dọc đậu hũ thành 10 miếng.
Dùng một tô nhỏ, trộn các thành phần còn lại để làm xốt teriyaki. Đổ nước xốt vào khay nướng 9 x 9 inch.
Xếp các miếng đậu hũ vào xốt. Lật các miếng đậu hũ lại để thấm lớp xốt. Nướng từ 5 tới 10 phút, sau đó lật đậu hũ lại và nướng thêm 5 tới 10 phút nữa (làm 4 phần ăn).
Lưu ý: Dọn đậu hũ ăn với bánh mì, cơm thố hoặc bánh qui giòn.
Mỗi phần ăn: 135 calorie, 8,5g protein, 13g carbohydrate, 6g chất béo, 0g chất béo bão hòa, 0mg cholesterol, 1,5g chất xơ, 770mg natri. Calorie từ chất béo: 37%.
Vitamin A: 9 RE, Vitamin C: 1mg, Vitamin E: 0mg, Calcium: 121mg, Axit folic: 16mcg.
Bữa sáng đậu hũ đặc biệt
2mcp. dầu canola
6 oz đậu hũ mềm
1mcp. tỏi, bằm hoặc cắt nhỏ
1/2 mcp. xô thơm xay
Tiêu để nêm
1/3 chén hành cắt nhỏ (tùy chọn)
1 chén rưỡi khoai tây hành xay hiệu Ore-Ida Country Style đã rã đông.
3/4 chén rau bina ướp lạnh đã rã đông (vắt sơ cho bớt nước)
3/4 chén nước thay trứng Egg Beaters
Phun lớp dầu canola lên chảo chiên không dính dày, lớn.
Cho đậu hũ, tỏi, xô thơm, tiêu và hành vào nấu vừa lửa cho tới khi đậu hũ và hành vừa bắt đầu vàng.
Cho khoai tây hành xay (tất cả) vào, tiếp tục nấu, thường xuyên khuấy đều, cho tới khi chín hơi vàng. Cho rau bina và thứ thay trứng vào. Tiếp tục khuấy cho tới khi trứng chín đều. Dọn ăn với xốt cà chua nấm nếu muốn (làm 2 phần ăn).
Mỗi phần ăn: 252 calorie, 20g protein, 26g carbohydrate, 9g chất béo, 1g chất béo bão hòa, 0mg cholesterol, 4,5g chất xơ, 222mg natri. Calorie từ chất béo: 30%.
Vitamin A: 562 RE, Vitamin C: 20mg, Vitamin E: 2mg, Calcium: 262mg, Axit folic: 102mcg.

Phong bất định, phong củ ít lây, gọi là phong kín

Phong bất định, phong củ ít lây, gọi là phong kínCần nghĩ tới phong khi có vùng da bạc màu, teo ,khô, rụng lông, mất cảm giác đau, nóng, lạnh, sờ (tê dại), hoặc có u đỏ sần sùi ở mặt, vành tai, hoặc có triệu chứng bàn tay teo óp, khèo rụt ngón út và ngón đeo nhẫn, hoặc loét ở lòng bàn chân, rụng lông mày, sụp sống mũi, tổn thương giác mạc, đi cà nhắc.
Phong bất định là phong chưa ổn định, có thể chuyển thành thể nhẹ hoặc nặng hơn.
Phong củ là phong ổn định, biểu hiện sức đề kháng tốt.
Phong trung gian là phong đang chuyển thể sang phong ác tính.
Phong ác tính là phong năng nhất, biểu hiện tình trạng miễn dịch suy giảm nhất, dễ lây nhất, do đó còn gọi là phong mở.
Cũng may là các thể phong mở chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng số các thể phong.
Trước đây người ta chưa biết rõ bệnh phong, nên thường sợ lây quá mức. Đã có quan niệm cho rằng chỉ cần đi qua mộ người phong, thậm chí dẫm chân lên bóng người phong là có thể bị lây. Từ đó có thái độ xa lánh, hắt hủi, có khi đối xử tàn bạo với người phong (thả trôi sông, chôn sống, thả vào rừng cho thú dữ ăn thịt). Ngày nay khoa học đã khẳng định, bệnh phong tuy là bệnh lây nhưng tính chất lây rất hạn chế. Cụ thể chỉ có các thể phong mở mới có thể lây, nhưng phải tiếp xúc lâu dài hàng tháng, hàng năm, nhất là trẻ em 5 – 10 tuổi dễ bị sây sát da và sức đề kháng còn non kém. Càng lớn tuổi, sức đề kháng ổn định, khả năng bị lây càng ít. Ngay cả ở các cặp vợ chồng có người bị phong, tỷ lệ gây bệnh chỉ ở mức 3 – 5%.
Mặt khác BH ra ngoài trời chỉ sống thêm 1 – 2 giờ. Nhiệt độ cao, xà phòng, thuốc sát trùng thông thường đủ để diệt trực khuẩn phong. Không có phong di truyền hay phong bẩm sinh, vì BH không qua được màng rau. Có một người mẹ bị phong nặng, nếu sau khi lọt lòng được đem nuôi dưỡng ngay nơi khác, sẽ không bị lây bệnh từ mẹ. Trong gia đình có bố hoặc mẹ bị phong, chỉ có trẻ em dưới 10 tuổi mới cần uống thuốc phòng bệnh phong, còn người lớn không cần uống vì ít cảm thụ với trực khuẩn phong.
Trên thế giới đã có nhiều nước đạt tiêu chuẩn thanh toán bệnh phong, nhất là ờ châu âu, châu mỹ, oxtraylia. Tổ chức chống phong quốc tế đang tập trung chỉ đạo chương trình phòng chống tiến tới thanh toán bệnh phong ở các nước châu Phi và Châu Á.

Bệnh phong

Bệnh phongBỗng nhiên thấy trên da đầu có đám trụi hết tóc, da nhẵn, hình tròn hoặc bồ dục. dần dần có thể lan rộng, vằn vèo như hình rắn lượn, hoặc sau đó bị rụng toàn bộ tóc, kể cả lông mày, râu, lông nách, lông mu (gọi là trụi tóc toàn bộ). Nguyên nhân của loại rụng tóc này chưa rõ. Có thể liên quan tới xúc cảm tâm thần kinh (suy nghĩ, lo lắng nhiều). hoặc có ô nhiễm khuẩn khu trú ở tai mũi họng. Gần đây có tác giả cho là do cơ chế tự miễn. Điều trị chủ yếu bằng thuốc an thần, kết hợp với các thuốc tăng cường dinh dưỡng tóc. Theo kinh nghiệm dân gian, nặn tinh dầu vỏ bưởi, vỏ chanh, hoặc bôi cồn trắc bạch diệp, cồn hạt đậu miêu vào chỗ rụng tóc có tác dụng tốt cho tóc mọc.
Mấy năm gần đây, hiện tượng rụng tóc liên quan tới thuốc nhuộm tóc, uốn sấy tóc quá nhiều, hoặc do lạm dụng dầu gội có độ tẩy gầu cao ngày càng trở nên phổ biến. Da đầu mất hết lớp mỡ bảo vệ để chống đỡ với nấm, vi khuẩn, càng làm cho tóc rụng nhiều thêm. Muốn chữa loại rụng tóc này, chủ yếu phải thực hiện chế độ gội đầu hợp lí. Nhuộm tóc, uốn sấy tóc chỉ có lợi phần nào về thẩm mỹ nhưng cần đề phòng những tác hại cho tóc như làm tóc vàng hoe, giòn, dễ gãy, bị chẻ thành tua ở đầu ngọn tóc, thậm chí gây viêm da, viêm chân tóc, chốc lở da đầu.
Bệnh phong (phung, cùi, hủi) là một loại bệnh ngoài da lây truyền và bệnh xã hội lớn ở nước ta. Trước đây những năm 90 của thế kỷ trước, tỷ lệ mắc bệnh so với dân số khoảng 2% ở các tỉnh phía Bắc và 4 – 5% ờ các tỉnh phía Nam, Tây Nguyên. Gần đây, do kết quả của chương trình phòng chống bệnh phong do Viện Da liễu Trung ương chỉ đạo, tỷ lệ đã giảm xuống dưới 1%; một số xã, huyện, đã đạt được chỉ tiêu thanh toán bênh phong. Tuy nhiên ở một số vùng ở miền Nam, Tây Nguyên còn phải cố gắng nhiều mới đạt được chỉ tiêu thanh toán.
Tác nhân gây bệnh phong là trực khuẩn Mycobacteriun Peprae, do Hansen tìm ra năm 1873 (còn gọi là trực khuẩn Hansen, viết tắt là BH).
Biểu hiện rất đa dạng, tùy theo phản ứng và khả năng đề kháng, miễn dịch của cơ thể, thường phân biệt thành bốn thể chính: phong bất định, phong củ, phong trung gian, phong ác tính.
Muốn chẩn doắn phong, thầy thuốc chuyên khoa phải căn cứ vào triệu chứng lâm sàng (da, thần kinh, toàn thân), nhất lán xét nghiệm tìm trực khuẩn Hansen (BH) ở tổn thương da và niêm mạc mũi, kẽ cả xét nghiệm giải phẫu.

Một số thể rụng tóc thường gặp

Một số thể rụng tóc thường gặpVì vậy mỗi khi thấy có biến đổi bệnh lí ở lưỡi cần đến khám sớm ở thầy thuốc chuyên khoa để được chẩn đoán và hướng dẫn điều trị đúng đắn, sẽ có kết quả tốt và tránh được tai biến do bản thân mình gây ra.
Bình thường trên da đầu có khoảng 100000 – 150000 sợi tóc. Trước tuổi dậy thì, mật độ trung bình là 400 sợi trên 1cm2, sau dậy thì còn 200 sợi trên 1cm2. Mỗi sợi tóc tồn tại được 3 – 5 năm. Trong suốt đời người, mỗi nang tóc có thể mọc và rụng tới 20 lần. Tốc độ mọc của mỗi sợi tóc khoảng 0,35mm/ngày. Mỗi ngày tóc rụng dưới 60 sợi là bình thường, chỉ khi nào rụng từ 60 – 100 sợi mỗi ngày mới là hiện tượng bệnh lí.
Có nhiều nguyên nhân gây rụng tóc. Thông thường nhất là sau các bệnh nhiễm khuẩn, ký sinh trùng, virus, gây sốt cao kéo dài (sốt rét, cúm, thương hàn, sốt xuất huyết), sau khi đẻ,sau một lần phẫu thuật lớn, hoặc sau một chấn đông thần kinh mạnh. Mốt sô thuốc ức chế miễn dịch, chống cường giáp trạng, tránh thai, vitamin A, chiếu tia X quang ở vùng da đầu cũng có thể gây rụng tóc hàng loạt. Đối với những loại rụng tóc này chỉ cần sau khi khỏi bệnh, được ăn uống bồi dưỡng, nghỉ ngơi một thời gian thì tóc dần dần hồi phục như bình thường.
Người có tạng da mỡ (da dầu) cũng thường bị rụng tóc tiệm tiến, lan tỏa, nhất là vùng đỉnh đầu, dần dần thành “hói”. Chứng rụng tóc này có tính di truyền, có thể xuất hiện từ sau 30 – 35 tuổi. Nhiều khi kèm theo trứng cá ở mặt, lưng, ngực. thể tạng da mỡ (da dầu) gây rụng tóc chưa rõ nguyên nhân, chỉ mới thấy hiện tượng tăng dẫn xuất hormone nam xung quanh nang tóc bị teo. Rụng tóc da đầu chỉ gặp ở nam giới. Đối với hiện tượng rụng tóc này nên thực hiện chế độ gội đầu: thưa, loãng, nhẹ như đã nói ở trên, để hạn chế rụng tóc (nghĩa là 3 – 5 ngày gội một lần bằng nước gội pha loãng đễ giảm độ tẩy gầu và không cào vò quá mạnh khi gội làm chấn thương lên chân tóc). Dùng vitamin B5, dexpanthenol (Be1panthine), vitamin H (Biotin, Minoxidil…) là những thuôc có tác dụng tăng cường tuần hoàn dinh dưỡng ở da đầu, giúp cho sư phát triển của tóc. Tuy nhiên kết quả cũng thất thường, không chắc chắn.
Có một loại rụng tóc thường gặp ở trước tuổi thanh niên, khá đặc biệt, gọi là “trụi tóc từng vùng” (alopecia areata). Nhiều khi bản thân bệnh nhân không tự biết mình có bệnh, vì không có càm giác gì ở da đầu và bệnh xuất hiện rất đột ngột.

Lưỡi bản đồ

Lưỡi bản đồNguồn lây nấm Candida có thể từ mẹ (mẹ bị nấm Candida ở vùng sinh dục, tay ô nhiễm làm lây sang con trong lúc cho ăn uống).
Trẻ bị tưa cần được khám sớm ở thầy thuốc nhi khoa hoặc da liễu để được chẩn đoán chính xác và hướng dẫn điều trị thích hợp. nếu bị nhẹ chỉ cần dùng các loại thuốc bôi chống Candida (các chế phẩm chống nấm phổ rộng nhóm imidazole – glycerin hoặc mật ong borat – fungizone…). Nhưng nếu nặng cần uống thêm kháng sinh chống Candida albicans (Nizoral, Ketoconazol, Lamisil). Những thuốc này nhất thiết phải có chỉ định và hướng dẫn theo dõi của thầy thuốc.
Biểu hiện bằng lưỡi mất gai, rõ nhất ở phần trước, nền lưỡi bóng nhẵn. Trên mặt lưỡi có đám hình vằn vèo không đều, ranh giới rõ, như nét vẽ trên bản đồ, thay đổi hằng ngày. Không gây cảm giác gì đặc biệt, trừ phi bị nhiễm Candida albicans, rải rác có vết bự trắng.
Bệnh lành tính, nguyên nhân chưa rõ, nếu có nấm men Candida chỉ là nhiễm thứ phát.
Cần đi khám thầy thuốc chuyên khoa để được chẩn đoán, phân biệt với mãng lưỡi trụ gai trong giang mai bẩm sinh ở trẻ em.
Về điều trị, nếu không bị nhiễm Candida thì không có thuốc dì đặc hiệu, gia dình không nên tự động cho bé dùng kháng sinh, nhiều khi thêm hại.
Chỉ cần giữ vệ sinh răng, miệng. Thầy thuốc có thể cho bôi một số thuốc sát khuẩn thông thường (tím gentian, cồn axit salicylic 1%, axit tricloracetic 20 – 30%).
Nhiều trường hợp trẻ em lớn lên có thể tự nhiên khỏi.
Lưỡi nút
Lưỡi bị nứt thành từng đường dọc, độ sâu ít hoặc nhiều không phải do thiếu vitamin, do vi khuẩn hay virus, hay do “nọc” giang mai như một số bà mẹ thường lo lắng, mà chỉ là một trạng thái bẩm sinh của lưỡi, chưa rõ nguyên nhân.
Bình thường không ảnh hưởng gì tới sức khỏe chung, trừ những lúc bị viêm tấy, trở ngại ăn uống.
Hiện nay chưa có phương pháp điều trị hữu hiệu.
Chủ yếu là giữ gìn vệ sinh sao cho các vết nứt không bị nhiễm khuẩn, nhiễm men mốc thứ phát. Sau mỗi bữa ăn súc miệng bằng nước muối loãng hoặc nước borat 5% để sát trùng, đánh răng trước khi ngủ. Đối với trẻ nhỏ phải dùng gạc sạch tẩm các dung dịch trên lau lên lưỡi, lợi cho bé. Tránh các thức ăn nóng, có gia vị cay chua.
Tình trạng lưỡi nứt có khi kéo dài nhiều năm cho tới khi trưởng thành.
Thực tế ở môi, lưỡi và miệng của trẻ em cũng như của người lớn còn có nhiều loại bệnh khác nhau, triệu chứng đa dạng, khó chẩn đoán cũng như điều trị.

Bệnh tưa lưỡi

Bệnh tưa lưỡiHiện tượng mồ hôi màu thường gặp nhất ở vùng nách. Mồ hôi tiết ra có thể có màu xanh, đen đỏ, vàng làm hoen ố áo lót, do trong mồ hôi có những chất tạo sắc tố lúc ra khí trời bị oxy hóa và đổi màu (như pioxianin, indican), gây nên mùi khó chịu.
Đây là một rối loạn chức phận tiết mồ hôi kèm theo rối loạn chuyển hóa một số chất trong thành phần mồ hôi. Vì đâu sinh ra những rối loạn đó? Y học hiện nay chưa giải thích được rõ ràng. Tuy nhiên, bên cạnh nguyên nhân do rối loạn chuyển hóa, rối loạn giao cảm, còn có thể có vai trò của một số nấm và vi khuẩn (tụ cầu trắng, lepotric…).
Ra mồ hôi màu, không gây ảnh hưởng gì tới sức khỏe, nhưng thường phiền phức vì gây mùi khó chịu (hôi nách) ảnh hưởng tới tâm lí bệnh nhân trong quan hệ gia đình, xã hội. Bệnh tiến triển khá dai dẳng, có thể lây cho người tiếp xúc gần gũi do dùng chung khăn mặt, áo lót. Bé gái đến tuổi dậy thì, có thể bị hôi nách.
Điều trị còn khó khăn, chủ yếu là giữ vệ sinh da, năng tắm giặt, là kỹ áo lót trước khi mặc. Điều trị toàn thân như trong chứng tăng tiết mồ hôi.
Điều trị tại chỗ, có thể xoa phấn rôm (gồm axit boric 3g, tanin 3g, bột talc 50g, kẽm oxit 50g). Lau nách ngày 2 – 3 lần bằng dung dịch urotropin 10%, nước giấm thanh, thuốc tím pha loãng, xoa bột phèn phi có tác dụng tốt.
Bệnh nhân không nên tự động bôi thuốc, nhất là các thuốc có thể gây viêm da, kích thích (như ASA, BSI), vì vùng da nách mỏng, nhạy cảm, rất dễ bị lở loét. Tránh dùng chung áo lót, khăn mặt với người bệnh.
Một số bệnh ở lưỡi trẻ em
Trẻ em thường bị một số bệnh ở lưỡi sau:
Trẻ sơ sinh, kể cả thiếu niên, nhất là trẻ suy dinh dưỡng thường bị bệnh này. Bắt đầu nổi một vài điểm trắng, đường kính 2 – 3 mm ở viền phía trong môi, lợi, trên lưỡi hoặc phía trong má, dần dần lan rộng, có khi thành tảng dày trên lưỡi, trong má. Trẻ em bị tưa nặng sẽ lười bú, lười ăn, vì luôn có cảm giác đau rát ở lưỡi, miệng, Lâu ngày vết tưa có thể lan xuống họng, phế quản, phổi gây viêm ùn tắc, nặng có thể nhiễm vào máu, gây tử vong.
Lấy chất tưa xét nghiệm trực tiếp thường thấy Candida albicans, một loại men mốc thường tạp sinh ở miệng, họng, vùng sinh dục nữ. Trong điều kiện suy dinh dưỡng, sức đề kháng của trẻ bị suy giảm, nấm Candida sẽ tăng sinh và trở thành gây bệnh.

Tăng tiết mồ hôi

Tăng tiết mồ hôiTrên da chúng ta có khoảng 2 – 5 triệu tuyến mồ hôi, trung bình 200 – 300 tuyến trên 1cm2. Lòng bàn tay, bàn chân có khoảng 500 – 600 tuyến trên 1cm2.
Đối với người lớn, trung bình mỗi ngày có thể ra 1 – 2 lít mồ hôi. Ở người lao động chân tay nặng nhọc, lượng mồ hôi ra hằng ngày có thể tăng nhiều.
Nếu trong điều kiện bình thường mà mồ hôi tiết ra quá mức trên thì gọi là chứng tăng tiết mồ hôi không rõ nguyên nhân (tiên phát). Tăng tiết mồ hôi trong cơn sốt rét, cúm, thương hàn, hoặc sau những chấn thương ở tủy sống… thì gọi là tăng tiết mồ hôi thứ phát.
Tăng tiết mồ hôi không rõ nguyên nhân (tiên phát) có thể là toàn thân hoặc chỉ ở vài vùng như trán, nách, lòng bàn tay, chân. Tuy không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, nhưng trở ngại không ít đến sinh hoạt, học tập, lao động hằng ngày. Đã có học sinh học đàn violon phải bỏ học do chứng tăng tiết mồ hôi ở bàn tay, mồ hôi tay ra nhiều làm hoen ố cả vở viết.
Những lúc bệnh nhân phải tập trung tư tưởng hoặc bị xúc cảm mạnh, mồ hôi càng ra nhiều, có khi chảy thành giọt. Ra nhiều mồ hôi tay, chân thường kèm theo róc da hoặc nổi mụn nước sâu ở lòng bàn tay, chân giống như bệnh tổ đỉa. Có thể kèm theo chứng á sừng (Đông y gọi là thấp thở). Bàn tay, bàn chân ra nhiều mồ hôi là điều kiện thuận lợi đế nấm da, nấm kẽ. Candida phát triển. Bệnh nhân bị ra mồ hôi nhiều ở lòng bàn chân thường rất khó chịu, vì mùi hôi khi đi giày tất lâu, thậm chí có khi gây nên chứng rỗ chân, hà chân.
Nguyên nhân tăng tiết mồ hôi còn nhiều điều chưa rõ, nhưng chắc chắn là có liên quan tới rối loạn thần kinh.
Tùy theo kết quả khám xét, thầy thuốc chỉ định cho bệnh nhân dùng các thuốc thích hợp, nhất là thuốc có tác dụng an thần, điều hòa hoặc ức chế giao cảm (Probanthin, Atropin, Belladon). Có thể bôi tại chỗ hoặc ngâm tay, chân vào các dung dịch có tác dụng sít da, giảm tiết mồ hôi (urotropin, tanin, formalin, clorua, ammonium…)
Có khi phải dùng đến các phương pháp cắt bỏ hoặc phóng bế bằng cồn hoặc nước sôi các hạch giao cảm cổ – lồng ngực do các thầy thuốc phẫu thuật thần kinh tiến hành.
Điều trị bằng Đông y, đơn thanh lương giải nhiệt có lá dâu tằm đã mang lại kết quả tốt cho một số bệnh nhân, nhất là ở trẻ em.
Người lớn tuổi bị tăng tiết mồ hôi nên hạn chế các chất kích thích (cà phê, thuốc lá, rượu, chè đặc), sinh hoạt lao động điều hòa, giữ trạng thái thần kinh thoải mái.

Hạt cơm là bệnh lành tính

Hạt cơm là bệnh lành tínhCó thể nhiễm virus này từ đất cát, nước bẩn, trong khi lao động hoặc sinh hoạt hằng ngày. Ra mồ hôi nhiều, suy giảm miễn dịch là điều kiện thuận lợi để nhiễm HPV. Trên một bệnh nhân, hạt cơm có thể lây lan từ vùng này sang vùng khác qua đường máu hoặc do bệnh nhân gãi làm xây xước và rớm máu ở hạt cơm, sau đó lại gãi lên vùng da khác (hiện tượng tự gây nhiễm). Rất ít khi lây hạt cơm từ người này qua người khác bằng tiếp xúc trực tiếp với hạt cơm trên bệnh nhân, hoặc qua vật dụng (đồ dùng, quần áo).
Tuy nhiên đã có trường hợp mẹ bị hạt cơm ở móng tay làm lây bệnh sang con, chắc là qua tắm rửa cho con.
Vì là bệnh do virus có liên quan tới miễn dịch (sức đề kháng) của cơ thể, nên bệnh có thể tự nhiên khỏi, không để lại dấu vết gì trong vòng 6 tháng, nhất là ở trẻ em. Nhìn chung, hạt cơm là bệnh lành tính, không gây cảm giác gì trừ ở một số vị trí (lòng bàn chân, dưới các móng, hậu môn, bộ phận sinh dục); hạt cơm dẹt ở mặt ảnh hưởng ít nhiều đến thẩm mỹ.
Dù sao vẫn nên phát triển sớm, điều trị sớm để tránh lây lan nhiều hơn cho bản thân người bệnh và có thể cả cho người xung quanh.
Có nhiều phương pháp điều trị hạt cơm, toàn thân hoặc tại chỗ
Đối với các trường hợp nặng, có tổn thương rải rác, thường dùng các chế phẩm có tác dụng diệt virus, nâng cao miễn dịch như: virustat; Acyclovir, Interferon, Bleomycin… với sự chỉ định, hướng dẫn và theo dõi của thầy thuốc.
Điều trị tại chỗ, dùng các thuốc phá hủy tổ chức sùi như: axit tricloxacetic, bút chì bạc nitrat, tinh thể thuốc tím, podophilin, duoflim, chế phẩm có axit salicylic, axit lactic… Cần rất tỉ mỉ thận trọng khi dùng, đề phòng gây lở loét nhiễm khuẩn phụ. Bệnh nhân không nên tự động dùng những thứ quá mạnh như pin đèn, dùi nung đỏ…
Có thể điều trị bằng các phương pháp do thầy thuốc chuyên khoa tiến hành như đót điện, áp tuyết cacbon, phun nito lỏng, chiếu tia laze cacbon đioxit…
Đối với hạt cơm dẹt ở mặt, cần đến khám ở thầy thuốc chuyên khoa để được chẩn đoán đúng, đề phòng nhầm với trứng cá, u vàng. Điều trị phức tạp hơn vì phải đảm bảo không để lại sẹo xấu.
Dân gian có nhiều phương pháp “chữa mẹo”, kết quả không chắc chắn, có khi không phù hợp với điều kiện hiện nay. (Nếu có kết quả có lẽ cũng là do tác dụng của tâm lí liệu pháp). Xát lá tía tô lên hạt cơm thường, xát kê nội kim (mặt trong mề gà) lên hạt cơm dẹt, trong một số trường hợp đã cho kết quả tốt.

Mụn cóc

Mụn cócTheo dây thần kinh cảm giác lan đến vùng da tương ứng tạo nên tổn thương viêm. Biểu hiện thành cụm mụn nước trên nền da đỏ, sau thành mụn mủ, đóng vẩy tiết vàng sẫm, kèm cảm giác đau rát. Mụn rộp thường nổi ở quanh mép, mông, vùng sinh dục. Ở nữ, mụn rộp có thể tái phát theo chu kỳ kinh nguyệt, có thể lây cho nam giới qua đường tình dục.
Cá biệt virus Herpès có thể gây viêm niêm mạc miệng lợi, viêm kết mạc, giác mạc, thậm chí viêm màng não. Mẹ bị Herpès có thể truyền bệnh cho bào thai gây chết lưu.
Bệnh mụn rộp rất hay tái phát, có khi dai dẳng hàng nhiều tháng, nhiều năm. Herpès thường nặng, có tổn thương rải rác ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch (AIDS, ghép cơ quan, người cao tuổi…).
Do đó phải được thầy thuốc chuyên khoa chẩn đoán, hướng dẫn và theo dõi điều trị lâu dài.
Điều trị tại chỗ thường dùng các dung dịch hoặc thuốc kem sát khuẩn (dung dịch Xanh methylene, Milian, Castellani, Rifamycin, kem Erythrogel, Epigel, Zovirax…).
Thuốc uống đặc hiệu nay đang được dùng rộng rãi là Zovirax, Acyclovir… nhưng phải có chỉ định và theo dõi chặt chẽ của thầy thuốc, vì thuốc có nhiều tác dụng phụ. Đối với trẻ em lại càng phải thận trọng khi dùng thuốc này.
Mụn cóc, còn gọi là hạt cơm, là một bệnh ngoài da thông thường, có thể biểu hiện dưới nhiều dạng:
Hay gặp nhất là mụn cóc thông thường, thành sẩn cục hoặc u bán cầu, nắn cứng, xù xì, màu sẫm, to bằng hạt đậu, hạt ngô hoặc hơn. Thường nổi ở phần hở các chi, nhất là chi dưới, lẻ tẻ một vài cái, có khi chi chit thành đám, thành chùm (ở gót chân).
Ở dưới lòng bàn chân, dưới móng tay, móng chân, mụn cóc gây nhức nhối khi va chạm hoặc tỳ ép, ít nhiều trở ngại cho sinh hoạt và lao động.
có thể gặp mụn cóc ở bộ phận sinh dục nam và nữ, xung quanh hậu môn, nhưng mềm và có màu xanh nhạt hơn, giống như sùi mào gà. Có thể lây nhiễm qua đường tình dục.
Một loại mụn cóc ít gặp hơn nổi thành sẩn dẹt, hình đa giác, hơi gờ cao lên mặt da, màu da hơi sẫm, mặt trên nhẵn. Thường nổi ở lưng bàn tay, cẳng tay, cổ, mặt, san sát bên nhau, thành đám ranh giới không rõ. Có khi mọc thành vệt dài rất đặc biệt. Loại này gọi là mụn cóc dẹt.trẻ em chơi lê la trên đất cát bẩn, nhất là tré có tăng tiết mồ hôi dễ bị mụn cóc.
Hiện nay đã biết rõ mụn cóc gây nên do một loại virus cỡ lớn, tên khoa học viết tắt là HPV (virus gây tăng gai ở người).

Viêm da do kiến khoang

Viêm da do kiến khoangZona có thể nổi ở vùng mắt, trán, ở mạng sườn, vùng thắt lưng, hông, lồng ngực, cánh tay. Có đặc điểm là tổn thương chỉ ở một bên, rất ít khi lan sang bên đối xứng. Zona vùng trán, mắt gây đau nhức dữ dội, kèm viêm giác mạc, kết mạc nặng, dẫn tới giảm thị lực. Sau 10 – 15 ngày bệnh có thể tự khỏi, để lại sẹo lõm lâu dài.
Thường chỉ bị một lần, không tái phát, vì có miễn dịch như đậu mùa.
Triệu chứng lâm sàng của zona ở trẻ em cũng giống như ở người lớn, nhưng gây đau đớn và dễ bị nhiễm khuẩn nặng hơn.
Ở người già, zona dù khỏi vẫn để lại chứng đau nhức dai dẳng ở vùng da đã có tổn thương (triệu chứng đau dây thần kinh sau zona).
Ở người suy nhược, suy giảm miễn dịch, tổn thương zona thường lan tỏa hơn, triệu chứng đau nhức, nổi hạch, sốt rõ rệt hơn. Bệnh nhân trẻ, nổi zona rộng rải rác, cả hai bên, cần được xét nghiệm về HIV.
Zona là bệnh cần được thầy thuốc chuyên khoa chẩn đoán, hướng dẫn, theo dõi điều trị càng sớm càng tốt (nhất là zona vùng mắt, trán).
Điều trị tại chỗ, thầy thuốc sẽ chỉ định các thuốc chống viêm, sát khuẩn thông thường hoặc các thuốc có tác dụng đặc hiệu với virus ona (Epigel, Zovirax).
Điều trị toàn thân thì dùng thuốc kháng sinh (Erythromycin, Acyclovir), kết hợp thuốc an thần, giảm đau, chống dị ứng (các chế phẩm có paracetamol, kháng histamine tổng hợp).
Đặc biệt không bôi mỡ cocticoit (Flucinar, Xinala) lên chỗ tổn thương zona.
Bệnh nhân nên tránh kỳ cọ lên chỗ tỗn thương, không làm tróc vẩy, trợt mụn, tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn.
Chú ý: Hằng năm, vào lũ lụt, có một loại kiến khoang thường theo ánh đèn bay vào nhà. Những người làm việc, trẻ em học dưới ánh đèn, có thể bị kiến khoang rơi vào cổ, mặt, lưng, ngực. Giơ tay đập quệt làm côn trùng nát trên da. Chất độc của kiến khoang (pederin) có tác dụng gây gỏng như photho sẽ gây tổn thương phỏng nước, đau rát giống như tổn thương zona, nhưng khác zona ở chỗ các phỏng nước chỉ thành vệt ngắn, rải rác, có thể ở cả hai bên. Bệnh có thể tái phát nhiều lần. Đây là trường hợp “viêm da do kiến khoang”, không nên lẫn với zona.
Mụn rộp
Tên khoa học là Herpès. Trẻ em ít bị hơn người lớn, gây nên một loại virus (có tên viết tắt là HSV). Virus này bình thường vẫn tạp sinh tiềm tàng trong nước bọt hoặc trong một số hạch trên dây thần kinh cảm giác ở người lành. Gặp một số điều kiện như sốt cao do cảm cúm, viêm phổi, lạnh, chấn thương, xúc cảm đột xuất, nhiễm độc thuốc…. virus bị kích động chuyển từ tạp sinh thành gây bệnh.