Category: Tin tức làm đẹp

Nhiều người bị bệnh không chịu đi khám chữa sớm

Hoàn cảnh lao động, luyện tập ở nước ta còn nhiều vất vả, căng thẳng, da luôn bị ẩm ướt gây giảm sút sức đề kháng. Điều kiện sinh hoạt, vệ sinh ở nhiều nơi còn kém. Trong lao động sản xuất các phương tiện phòng hộ còn thô sơ, hiệu quả chưa cao. Với một số bệnh khác (phong, hoa liễu) còn liên quan tới nhiều yếu tố phức tạp về kinh tế, văn hóa xã hội, phong tục tập quán, giao lưu quốc tế. Những điều kiên khách quan này không thể giải quyết một sớm một chiều. Nhưng quan trọng hơn vẫn là nguyên nhân chủ quan, đó là sự thiếu hiểu biết về bệnh ngoài da. Không ít người còn chưa rõ vai trò và chức năng của da, chưa thật hiểu về tác hại nhiều mặt của bệnh da liễu, do đó còn có tư tưởng coi thường, xem nhẹ hoặc ngược lại, sợ lây, sợ bẩn, xa lánh bệnh nhân da liễu. Nhiều người bị bệnh không chịu đi khám chữa sớm, thường tự động xử trí làm cho bệnh nặng thêm. Nhất là người bị bệnh phong, hoa liễu còn có mặc cảm nặng nề, thường giấu bệnh, tự mua thuốc điều trị hoặc đến khám ở các nhà thuốc không đáng tin cậy để cho bệnh ngày càng biến chứng.
Mặc dù tỷ lệ cấp cứu, tử vong của bệnh da liễu thấp hơn nhiều so với các bệnh nội ngoại khoa khác, nhưng chúng ta cần thấy rõ tác hại nhiều mặt của bệnh này.
Đối với bản thân, bệnh da liễu gây đau ngứa, khó chịu, có khi đỏ da, róc da, lở loét toàn thân, kéo dài nhiều tháng nhiều năm. Cũng có những bệnh không gây ảnh hưởng gì về thể chất nhưng là bệnh thuộc về thẩm mỹ, gây xấu xí (trứng cá, nám má, bạch biến, vẩy nến, trụi tóc…), tác động nặng nề đến tâm lí, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe, năng suất lao động, học tập. Đã có trường hợp bệnh nhân phong tự vẫn vì cho đời mình đã hết! Đấy là chưa nói đến một số loại bệnh có thể dẫn đến tử vong, tàn phế (luput đỏ, dị ứng thuốc, pemphigut, phong, lao da…).
Về mặt kinh tế, xã hội, bệnh da liễu càng cần được quan tâm. Nhiều bệnh có tính hàng loạt, tỷ lệ mắc bệnh cao, nhiều bệnh có xu hướng mạn tính, kéo dài, tái phát nhiều tháng, nhiều năm. Nhất là các bệnh phong, lao, hoa liễu là những gánh nặng thực sự cho gia đình, xã hội, mất nhiều ngày khi khám bệnh, điều trị tại bệnh viện hoặc ngoại trú, tốn tiền thuốc. Nếu tính thành tiền, mỗi năm nhà nước phải chi không biết bao nhiêu mà kể.
Riêng với trẻ em, bệnh ngoài da và hoa liễu càng cần được quan tâm.

Thực trạng, nguyên nhân, tác hại của bệnh da

Là hàng rào bảo vệ các cơ quan bên trong, da còn có mối quan hệ rất chặt chẽ với nội tạng, qua hệ thống thần linh, mạch máu, bạch huyết (lympho). Da phản ánh nhiều rối loạn và tổn thương nội tạng. Da và niêm mạc bị vàng do bệnh gan, sạm da do lao thận; táo bón, giun sán, gây sẩn ngứa, mày đay; thiếu vitamin A, C làm do khô, nứt nẻ; thiếu máu làm da xanh xao, tái tím… Vui buồn, lo sợ, thẹn thùng cũng được biểu lộ rất nhanh trên da. Ngược lại, các bệnh da ít nhiều đều ảnh hưởng đến nội tạng, sức khỏe toàn thân. Sẩn ngứa,, mày đay, eczema mạn tính làm bệnh nhân kém ăn, kém ngủ dẫn tới suy nhược thần kinh. Đinh nhọt, đinh râu, chốc lở nặng, ghẻ nhiễm khuẩn… có thể gây nhiễm khuẫn máu, viêm cầu thận cấp, tử vong… Bị bỏng 50 – 60% có nguy cơ gây tử vong do choáng, rối loạn điện giải, nhiễm độc.
Rõ ràng da có vai trò rất lớn trong việc bảo vệ cơ thể, đảm bảo sức khỏe, năng suất học tập, lao động của con người.
Theo tài liệu của Viện da liễu, bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều phòng khám da liễu ở các tỉnh, tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da trong nhân dân thường tới 20 – 25%. Trong đó nhiều nhất là bệnh ghẻ, nấm, chàm, viêm da mủ, bệnh dị ứng, phong, da liễu, bệnh nghề nghiệp….
Bệnh hoa liễu (bệnh lâu qua đường tình dục) như lậu, giang mai, hạ cam, hột xoài chưa co chiều hướng giảm, nhất là trong tình hình hiện nay nạn mại dâm đang có xu huống phát triễn cùng với đà phát triển của ngành du lịch và nhiều hình thức giải trí gắn với tình dục khác. Bên cạnh đó, đại dịch HIV/AIDS đang có xu hướng gia tăng bùng nổ ở nước ta, dựa vào đường lây truyền chủ yếu là tình dục, tiêm chích ma túy.
Tuy chưa có số liệu điều tra cơ bản, bệnh da nghề nghiệp (viêm da, eczema, sạm da…) do tiếp xúc với hóa chất trong công nghiệp đã và đang trở thành mối quan tâm của ngành da liễu.
Bệnh phong (hủi) tuy đã được khống chế ở mức dưới 1%, nhiều vùng đã được thanh toán, nhưng vẫn còn là gánh nặng xã hội, nhất là trong việc giải quyết di chứng tàn phế.
Sở dĩ tình hình bệnh da liễu còn phổ biến như vậy là do nhiều yếu tố khách quan. Điều kiện nhiệt đới, nóng ẩm, nhiều côn trùng, đầm lầy, mưa lũ, khô hạn, nguồn nước và không khí ngày càng bị ô nhiễm, gây nhiều tác hại cho cơ thể nói chung và da nói riêng.

Nhờ hệ số dẫn nhiệt thấp của lớp sừng

Sắc tố melanin ở thượng bì có tác dụng ngăn chặn tác hại của bức xạ mặt trời, nhất là tia cực tím.
Lớp sừng với phim bã do chất mỡ của tuyến bã tiết ra, dàn đều trên mặt da, bảo vệ da khỏi tác hại của axit kiềm ở mức độ nhất định. Các chất độc hại muốn ngấm qua da phải vượt được hàng rào sinh học khá ổn định của thượng bì. Chính lớp sừng làm cho da không ngấm nước. Nhờ lớp sừng và phim bã mà da chống lại được sự xâm nhập của vi khuẩn, nấm, hình thành khả năng tiệt khuẩn tự nhiên của da. Mặt khác, da cũng tự làm sạch, đào thải các chất độc bám trên da, bằng cách thường xuyên róc lớp sừng, bài tiết mồ hôi và chất bã.
Nhờ hệ số dẫn nhiệt thấp của lớp sừng và tổ chức mỡ dưới da mà vào mùa đông da giữ không cho tỏa nhiệt nhiều, cản bớt lạnh từ bên ngoài. Vào mùa hè da hạn chế cái nóng của môi trường để không ảnh hưởng nhiều đến cơ thể. Bản thân phản ứng của vận mạch và ra mồ hôi của da đã chủ động tham gia điều hòa thân nhiệt. Khi nhiệt độ bên ngoài tăng cao, mạch máu dưới da giãn nỡ, máu dồn ra ngaoị vi, các tuyến mồ hôi tăng tiết, tăng bốc hơi và tỏa nhiệt. Ngược lại khi nhiệt độ bên ngoài thấp, mạch máu dưới da co lại, dồn máu vào trong, các tuyến mồ hôi giảm tiết, hạn chế tỏa nhiệt.
Với 2 – 5 triệu tuyến mồ hôi, da tham gia cùng với thận bài tiết nước, một số chất độc trong đó có urê. Qua các tuyến bã có nhièu ở da đầu, mặt, lưng, ngực, một số chất độc cũng được thải ra ngoài. Da còn tham gia đào thải khí cabonic cùng với phổi.
Da cũng là kho dự trữ nước, muối, đường, mỡ, máu, một số vitamin và chất vi lượng. Cơ thể thiếu thừ gì, da kịp thời cung cấp. Còn khi cơ thể thừa gì lại nhờ da cất giữ. Dưới tác dụng của tia cực tím, vitamin D được chuyễn hóa dưới da, góp cho sự tăng trường của cơ thể. Da còn tạo ra chất sừng, sắc tố melanin, quyết định chất lượng của thượng bì.
Nhờ có các tiểu thể thần kinh thụ cảm, phân bố dày đặc dưới da, mà tất cả các vùng của cơ thể phân biệt được cảm giác đau, nóng, lạnh, sờ mó, tỳ ép. Nhờ vẫy cơ thể thích ứng được với ngoại cảnh, đáp ứng kịp thời với các biến đổi của môi trường, hạn chế hoặc tránh được các tác nhân độc hại. Khả năng thụ cảm của da là điều kiện không thể thiếu để con người tiến hành mọi sinh hoạt, lao động, nghệ thuật.

Làn da khỏe đẹp

Kiến thức cơ bản về vệ sinh phòng bệnh da
Cấu trúc, chức năng da trong cơ thể
Da không phải là một vỏ bọc đơn thuần mà là một cơ quan có cấu trúc tinh vi phức tạp, chiếm 1/5 – 1/4 trọng lượng cơ thể với diện tích 1,5 – 2 m^2
Nhìn qua kính hiển vi da gồm ba lớp. Lớp dưới cùng, sát với mặt ngoài các cơ là hạ bì. Đó là một tổ chức liên kết gồm các ô tế bào mỡ, nơi màng lưới mạch máu và thần kinh ngoại vi bắt đầu tỏa nhánh hướng lên phía trên. Trên hạ bị là trung bì gồm nhiều loại sợi keo, đàn hồi, sợi lưới, nhiều loại tế bào cố định hoặc di động, tất cả ngập trong một chất đệm đặc biệt gọi là chất cơ bản. Đây là lớp sống động nhất, nơi thường xuyên diễn ra quá trình hấp thụ, chuyển hóa, trao đổi các chất miễn dịch, điều hòa quan hệ giữa da và nội tạng. Trên cùng là lớp thượng bì, gồm lớp đáy, lớp gai, lớp hạt, lớp sáng và lớp sừng. Lớp sừng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó là lớp ngoài cùng của da, là nơi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng đầu tiên của cơ thể. Lớp đáy còn gọi là lớp cơ bản có nhiệm vụ sản sinh ra tế bào của lớp gai. Giữa tế bào lớp đáy xen kẽ có những tế bào tua sản xuất ra sắc tố da (melanin). Càng về phía trên, tế bào gai càng dẹt dần và nhiễm chất sừng (keratin), sau cùng trở thành các tế bào dẹt, hình lá, hoàn toàn nhiễm chất sừng và hằng ngày bong ra. Ngoài các lớp tế bào đã nói trên, da còn có các phần phụ : nang lông, tuyến bã, tuyến mồ hôi, màng lưới thần kinh, mạch máu, bạch huyết dày đặc.
Da đảm nhận nhiều chức phận quan trọng, liên quan mật thiết tới sự tồn tại và phát triển của cơ thể. Cùng với các phần phụ (lông, tóc, móng), da bảo vệ cơ thể chống lại các yếu tố độc hại từ bên ngoài (cơ học, hóa học, lý học, sinh vật học). Nhờ lớp sừng dẻo dai ở thượng bì, một số vùng có lông, tóc dày, da chống đỡ được các chấn thương, sây sát. Lớp đáy, lớp gai với những tế bào gắn chặt bằng cầu nối, lớp trung bì có các sợi chun giãn, lớp hạ bì có các ô mỡ và tổ chức đệm, làm cho da thành một lớp bảo vệ cơ học đáng kể. Ở những vùng luôn bị chấn thương chà xát trong sinh hoạt và lao động (lòng bàn tay, gót chân) lớp sừng bao giờ cũng dày hơn chỗ khác.
Hệ số dẫn diện, dẫn nhiệt cùa lớp sừng tương đối thấp làm cho da chống dỡ được ít nhiều tác hại của nhiệt điện

Ra nắng, phơi nắng lâu

Sử dụng các chất hại da (thuốc tẩy, rửa), tiếp xúc với các chất có thủy ngân.
Phương pháp bổ sung cho cơ thể vitamin và các chất khoáng
Việc dùng nhiều loại thực phẩm và chế biến các món ăn đa dạng nhiều khi cũng không tránh được hiện tượng thiếu chất của cơ thể do có nhiều trường hợp cơ thể đòi hỏi phải được cung cấp trên mức bình thường như : bị stress, làm việc trong môi trường bị ô nhiễm, trẻ em đang ở lứa tuổi cơ thể phát triển nhanh, phụ nữ mang thai, vận động viên thi đấu thể thao, v.v… tất cả đều cần được bồi dưỡng thêm về vitamin và các chất khoáng.
Các chất bổ hoặc dược phẩm cần được sữ dụng theo đún nguyên tắc : có khả năng phối hợp với nhau và phù hợp với cơ thể người được bồi dưỡng.
Phương pháp bồi dưỡng sức khỏe bằng cách phối hợp việc ăn uống với các thuốc bổ sung các chất cần thiết là một ngành mới trong y khoa nhằm tăng cường sức khỏe, đạt được những đỉnh cao về thể lực và trí lực, chống sự lão hóa và phòng tránh bệnh tật. Các bác sĩ còn có thể thực hiện phương pháp phẫu thuật hoặc việc dùng tia phóng xạ (phương pháp xạ trị).
Việc bổ sung các chất vitamin và chất khoáng có thể thực hiện hằng ngày hoặc tùy theo trường hợp.
Bổ sung hàng ngày
Thức ăn hoặc thuốc bổ sung hàng ngày được dùng với 3 bữa ăn, vì các món ăn thường có chất béo nên dễ phù hợp với các loại vitamin dễ tan trong chất béo, nhưng cần :
Không chứa các nguyên tố sắt, đồng, mangan
Chứa nhiều vitamin E ở dạng tự nhiên (rau, trái cây …)
Chứa bêta – carotene chứ không phải là vitamin A
Phù hợp với người dùng (người trẻ, người già, phụ nữ, phụ nữ đang mang thai … )
Bổ sung theo tình hình
Thực phẩm hoặc thuốc bổ sung chỉ dùng trong một thời gian nào đó, khi cơ thể có yêu cầu trong những trường hợp :
Bị suy giảm sức lực
Bị stress hoặc cảm thấy sắp bị stress
Dễ giận dữ, mất bình tĩnh
Khó tập trung sự chú ý
Cơ thể dễ nhiễm bệnh
Da khô, móng tay, móng chân dễ gãy
Việc sử dụng những vitamin có khả năng gây ngộ độc như vitamin D, A, B6 cần phải có ý kiến của bác sĩ.
Cần báo cho các bác sĩ về hiệu quả của việc điều trị (mô tả những cảm giác dễ chịu hoặc sự hồi phục của sức khỏe, những cảm giác đau cũ đã được giảm bớt hoặc là không còn nữa sau một thời gian ăn theo chế độ hoặc dùng thuốc bổ sung)

Một số vấn đề cụ thể về sức khỏe

Phụ lục
Những nội dung trên của cuốn sách này đều có một mục đích chung : giúp các bạn biết cách giữ gìn và tăng cường sức khỏe của mình bằng việc sữ dụng các thực phẩm và các dược phẩm có các chất cẩn phải bổ sung cho cơ thể.
Phần phụ lục nhỏ sau đây sẽ trình bày những vấn đề trên một cách cụ thể để các bạn tham khảo thêm.
Chế độ ăn uống đầy đủ
Ăn là biện pháp cơ bản nhất để giữ gìn sức khỏe. Muốn bữa ăn được đầy đủ, chúng ta cần biết lựa chọn các thực phẩm và luôn luôn thay đổi các món ăn sao cho mỗi món ăn đều có nhiều vitamin, các chất khoáng và các nguyên tố vi lượng có lợi cho sức khỏe.
Sau đây là một thí vụ về các thực phẩm, món ăn trong ngày để chúng ta tham khảo. Thông thường, mỗi ngày ăn 3 bữa : 1 bữa nhẹ (ăn sáng) và 2 bữa chính (trưa và chiều). Theo thói quen hoặc điều kiện làm việc, có người chuyển 1 bữa chính lên buổi sáng, buổi trưa chỉ ăn nhẹ còn buổi chiều thì ăn bình thường, Như vậy, có 2 công thức ăn trong ngày như sau :
Nhẹ – chính – chính
Chính – nhẹ – chính
ở một số nơi, người ta quen ăn tối, nên buổi chiều có thể ăn thêm một vài món ăn nhẹ như : yaourt, bánh ngọt, trái cây, theo công thức : sáng – trưa – chiều – tối
nội dung các bữa ăn có các món :
bữa sáng ( điểm tâm) gồm :
bánh (bột mì hay bột gạo), trứng, sữa bò, hoặc sữa đậu nành pha đường, trái cây hoặc nươc ép trái cây.
Bữa trưa và bữa tối
Món ăn từ thịt tươi : 1 lần trong ngày, cùng với một món rau sà – lách trộn với 2 thìa (muỗng) dầu ăn, cùng các gia vị hành, tỏi, muối có iốt.
Gan : 2 lần trong tuần. Phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu chỉ nên ăn 1 lần trong tháng.
Món cá có mỡ : 3 lần/ tuần
Món súp-lơ hoặc rau giống loại cải hoa : 3 lần/tuần
Rau xanh bữa nào cũng nên ăn
Nấm : 2 – 3 lần/tuần
Sữa hoặc yaourt : 1 – 2 lần/ngày
Trái cây hoặc nước quả ép : 2 lần/ngày
Nước ép cà chua : 2 – 3 ly/ngày
Nước khoáng : 1,5 lít/ngày
Bữa phụ chiều hoặc tối
1 gói đậu phộng (lạc) hay hạt điều, trái cây, yaourt.
Nên tránh
Thuốc lá
Cà phê
Món thịt nướng cháy, món rán nhiều mỡ
Ăn quá nhiều thịt, mỡ
Ăn quá nhiều phó-mát (phô mai)
Uống nhiều rượu (không đựng rượu trong bình phalê)
Dùng các thuốc bổ không cần thiết

Tác hại của chì đối với sức khỏe con người

Tác hại chính của Hg đối với cơ thể là phá hủy các màng bao bọc dây thần kinh não, gây rối loạn về hệ thần kinh và hệ miễn nhiễm.
Bởi vậy, chúng ta cần tránh dùng các dược phẩm có thành phần thủy ngân, kể cả thuốc đỏ để bôi ngoài da như mercurochrome, thay thế thuốc trám răng cũ (amalgam) bằng loại chất liệu mới không có thủy ngân, dùng thêm thuốc bổ sung chất sêlen cho cơ thể, vì Se có tính chống oxy hóa và khả năng khử thủy ngân trong cơ thể.
Chì (Pb)
Chì có tên khoa học là Plumbum, ký hiệu Pb, thường có mặt trong không khí bị ô nhiễm, trong nước máy (do nhiều nơi vẫn dùng những ống dẫn nước bằng chì) và trong các thực phẩm.
Tuy nhiều nước trên thế giới, kể cả ở Việt Nam, đã dùng xăng không pha chì, nhưng kim loại này vẫn là sự đe dọa thường xuyên cho sức khỏe con người, đặc biệt là với các trẻ em và người già. Chì là kim loại nặng được sử dụng rất rộng rãi trong các ngành công nghiệp nên dễ làm ô nhiễm không khí và nguồn nước.
Nhiều người Ai Cập từ thời cổ đại đã dùng phấn chì để trang điểm và đều không sống được qua tuổi 30. Chì không nhựng chỉ có tác hại tới các enzyme ở não mà còn ức chế hoạt động của các phần từ cấu tạo máu. Bởi vậy, sự nhiễm độc chì có thể dẫn tới các bệnh về máu như bệnh thiếu máu, bệnh cao huyết áp, gây đau quặn vùng bụng vì ruột là điểm hấp thụ các chất từ thức ăn.
Vì chì độc, nên chúng ta cần rất cẩn thận mỗi khi tiếp xúc với chì, tránh để chì có liên quan tới việc ăn uống. Thí dụ một số chai rượu dùng chì làm nắp bảo đảm, mỗi khi rót rượu, ta nên chú ý không để rượu chảy qua vòng nắp còn sót lại ở cổ chai. Công nghiệp làm pha lê dùng tới hóa chất có chì, bởi vậy không nên đựng rượu lâu trong những bình bằng pha lê. Những cốc (ly) bằng pha lê có thể dùng đựng rượu trong một thời gian ngắn.
Nên tránh cho trẻ em ra đường phố trong những giờ cao điểm vì bụi đường có chì nặng, thường hay thấp và vừa tầm hít thở của trẻ em.
Không nên uống trực tiếp nước máy vì có thể nước máy đã chảy qua những đoạn ống chì
Nên uống nước khoáng, sữa đậu nành, ăn yaourt, rau xanh, các thực phẩm và thuốc có magiê, canxi, kẽm, vitamin B1 và vitamin C, vì đấy là những chất có tác dụng khử chì ra khỏi cơ thể.

Các nhà khoa học đã ước lượng ngọn núi lửa Etna trên đảo Sicile ở nước Ý

Các núi lửa trong tự nhiên, thường phun ra thủy ngân nguyên chất cùng với các muối của nó dưới dạng sunfua. Các nhà khoa học đã ước lượng ngọn núi lửa Etna trên đảo Sicile ở nước Ý, lúc hoạt động mỗi ngày đã phun ra tới 90 kg thủy ngân.
Tuy là một kim loại có độc tính cao, nhưng thủy ngân lại được sử dụng trong rất nhiều ngành để làm nhiệt kế, áp lực kế, tráng gương, phân kim (lấy vàng, bạc ra khỏi quặng), trong y khoa, nha khoa, nông nghiệp (thuốc trừ sâu), chất dẻo, v.v… Bởi vậy, nhiều nguồn nước từ suối, ao, hồ, sông, biển đã bị con người làm nhiễm độc do những chất thải của những nhà máy đã sử dụng thủy ngân thải ra. Có nhiều người nghĩ rằng biển cả mênh mông có thể làm tan biến đi mọi thứ rác. Không phải như vậy! Những chất thải có thủy ngân từ nhà máy đổ ra biền mới đầu được các loại rong biển hấp thụ. Rồi những loài cá nhỏ tới ăn rong, kế đến là các loài cá to hơn ăn các con cá nhỏ. Cuộc sống nơi biển cả cứ diễn biến liên tục như vậy, làm cho loài cá càng to càng nhiễm nhiều chất độc, và kẻ hứng chịu tai họa cuối cùng lại là con người, vì người ăn cá, cả cá bé lẫn cá lớn!
Ở Nhật, từ 1953 – 1960, đã có tới 111 người dân sống ở miền biển Minimata bị chết do ăn các loại hải sản bị nhiễm thủy ngân. Năm 1978, người ta đã phát hiện được nguyên nhân làm cho hàng loạt những dân chài ở Sardaigne, phía nam đảo Corse của nước Pháp, bị ngộ độc, do một nhà máy hóa dầu thải các chất có thủy ngân ra biển. Từ đó trở đi, một số các nhà môi trường học mới bắt đầu lên tiếng hô hào mọi người cần có ý thức giữ gìn sự trong sạch của biển và các đại dương !
Hậu quả của việc cơ thể người bị nhiễm Hg
Những nguồn gây nhiễm Hg cho cơ thể người rất đa dạng, nhưng nói chung, đều do chính con người gây ra vì tính ích kỷ hoặc vì thiển cận. Thí dụ chỉ riêng việc điện phân muối ăn để sản xuất giấy mà các nước công nghiệp thải ra biển tới hàng tấn thủy ngân. Những nha sĩ vận dùng thuốc có thủy ngân để trám răng cho khách hàng. Một công trình nghiên cứu về tác hại của Hg gần đây ở Pháp cho thấy, chất thủy ngân này có thể bốc hơi khỏi răng và được hấp thụ vào cơ thể. Người ta cũng nhận thấy, nhiều trẻ em bị tử vong khi mới sinh ra từ những bà mẹ trám răng bằng hợp chất thủy ngân đều có vết thủy ngân tích tụ ở não.

Tác hại của Cd đối với cơ thể

Cadmium (Cd)
“cát-mi” hay cadmium là một kim loại mềm, màu lơ nhạt, có ký hiệu Cd, thường được dùng trong công nghiệp để chế tạo hợp kim. Đối với cơ thể người thì đây là một chất độc.
Trước đây có nhiều phụ nữ tại ngôi làng Jintsu bên bờ một dòng sông ở nước Nhật, bị mắc bệnh rất bí hiểm : cứ cử động hay đi là thấy đau, khi bẹnh nặng, đa số bệnh nhân bị liệt tay chân, gãy xương và bị tử vong. Các bác sĩ Nhật cho rằng dân làng này bị ngộ độc do vùng thượng nguồn mà dòng sông chảy ra, có mỏ cadmium. Quả nhiên, việc xét nghiệm cho thấy nước tiểu của những bệnh nhân này có nồng độ Cd rất cao. Đây là một câu chuyện điển hình về tính độc của Cd.
Trong cuộc sống hiện tại, mọi người đều có thể bị ngộ độc ít nhiều về Cd bởi khói thuốc lá (đối với cả người hút và người hít thở không khí có khói thuốc), bởi không khí bị ô nhiễm do bụi, khói các nhà máy, sự phân hủy của các vật thối rữa, do ăn các thực phẩm như thịt, tôm, cua, cá, v.v…
Trong cơ thể, Cd dễ chiếm vị trí của kẽm (Zn) trong cấu tạo các hợp chất hữu cơ, khiến cho sự chuyển hóa chất và sự phát triển của cơ thể (nhất là cơ thể của trẻ em và của cả thai nhi còn trong bụng mẹ) bị ức chế. Nếu nồng độ Cd trong máu cao hoặc sự ngộ độc Cd xảy ra trong thời gian dài, Cd sẽ tích tụ lại ở thận, gây ra các bệnh về thận và bệnh cao huyết áp.
Nếu cơ thể có đủ chất magiê (mg), chất này sẽ ngăn không cho Cd xâm nhập vào các tế bào, để cho kẽm (Zn) tìm cách dẫn Cd về thận và thải ra ngoài theo nước tiểu.
Để đề phòng sự nhiễm độc bởi Cd, chúng ta cần :
Không hút thuốc lá, tránh hít thở khói thuốc do người khác hút.
Chú ý ăn các thực phẩm đa dạng để cung cấp cho cơ thể đầy đủ magiê và kẽm (có trong nước khoáng, ngũ cốc, rau quả có chất dầu).
Các chất canxi (Ca), sêlen (Se) và vitamin C đều có tác dụng hạn chế sự hấp thụ Cd vào cơ thể và tăng cường việc thải Cd ra ngoài.
Cần chú ý : quả thận (bầu dục) là thực phẩm có chứa nhiều Cd.
Thủy ngân (Hg)
Thủy ngân là một kim loại màu trắng bạc, tên Latinh là Mercurius, có ký hiệu Hg, đứng hàng đầu trong số các kim loại có tính độc và cũng là kim loại duy nhất ở thể lỏng. Hg chỉ đông cứng ở -39oC.

Vai trò của nhôm trong cơ thể người

Nhiều đồ dùng trong nhà, nhất là những đồ dùng để đun nấu, những hộp đựng thực phẩm, giấy bọc bánh, kẹo… đều làm bằng nhôm. Sự có mặt của nhôm ở mọi nơi trong cuộc sống, có thể là một nguyên nhân của sự thừa Al trong cơ thể, rất có hại cho sức khỏe của chúng ta.
Lượng nhôm sinh học trong cơ thể con người vào khoảng từ 30 – 50 mg. Ruột hấp thụ Al từ thức ăn vào khoảng 3 – 5 mg/ngày. Nhôm còn có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, không khí chứa bụi Al và hợp chất từ 1 – 100 ug/m3. Nồng độ Al trong máu rất thấp, thường dưới 10 u/l, 80% lượng Al này được gắn với các phân tử protein, anbumin hoặc hợp chất sắt trong máu, 20% còn lại ở thể Al tự do. Nhưng nguồn Al chủ yếu vào cơ thể người chính là nước, kể cả nước máy.
Cũng giống như sắt, đồng, mangan, thủy ngân và chì thì nhôm cũng có tác dụng làm cho các tế bào mau bị lão hóa (do Al hổ trợ cho sự oxy hóa), Al có thể thế chỗ các nguyên tử canxi trong xương làm cho xương có thể kém bền và dễ gẫy. Những người dùng thuốc thành phần có Al trong một thời gian dài có thể tạo điều kiện để cho Al tồn đọng nhiều ở các cơ quan nội tạng như tủy và xương, cơ bắp, thận, gan, tuyến giáp và não.
Tuy rẳng tác dụng của chất Al đối với hoạt động của các cơ quan trong cơ thể vẫn chưa xác định được rõ ràng, nhưng nhiều nhà khoa học vẫn thiên về sự nhận định rằng Al có hại cho não. Một công trình nghiên cứu về nước uống ở Anh đã cho biết, những vùng mà có hàm lượng Al trong nước cao quá 110 ug/lít đều có số người mắc bệnh Alzheimer cao gấp rưỡi nơi khác. Não của những người bị bệnh lú lẫn này thường có những điểm có nhôm tích tụ. Cũng bởi vậy, mà Hội đồng về sức khỏe ở châu Ạu đã ra đời và khuyến cáo với mọi quốc gia, nên hạn chế hàm lượng Al trong nước uống của dân chúng, sao cho không vượt quá 50 ug/l dù rằng cơ thể người có thể chấp nhân trong thời gian ngắn, nước có chứa Al tới 200 ug/l.
Cũng để tránh cho sự ngộ độc bởi nhôm, nhiều nhà khoa học còn có ý kiến rằng nên thay thế các dụng cụ bằng nhôm dùng để đun nấu thức ăn, bằng các nguyên liệu khác (như thủy tinh chịu nhiệt) và đổi việc bọc, gói bánh kẹo bằng giấy nhôm (thường được gọi là giấy bạc), bằng giấy tẩm chất chống thấm.