Category: Tin tức làm đẹp

Hiện tượng cơ thể bị ngộ độc vì vanadi

V duy trì sự hoạt động đều đặn của các bộ máy bơm Na+ và Ca++ ở màng tế bào, điều hòa số lượng cần thiết của các ion này ở bện trong và bên ngoài màng tế bào.
Người ta chưa gặp trường hợp bệnh nào do thiếu hoặc thừa V ở người. Tuy nhiên, người sống trong không khí bị ô nhiễm có thể có các biểu hiện bị ngộ độc V khiến cho phổi, màng nhầy ruột bị tổn hại. Trường hợp bị ngộ độc trong thời gian dài sẽ làm cho lưỡi bệnh nhân có màu xanh kèm theo những rối loạn ở gan, thận, hệ thần kinh và đôi khi còn làm cho người bệnh bị thiếu máu, tỷ lệ bạch huyết cầu trong máu giảm.
Giống như trường hợp các nguyên tố thiếc, arsenic (nhạn ngôn – As), người ta cũng chưa hiểu biết về vanadi một cách kỹ càng nên việc sử dụng thuốc có V còn rất hạn chế.
Bốn kim loại độc
Có những kim loại độc có tác dụng kìm hãm sự phát triển của cơ thể con người, cả về mặt tinh thần lẫn thể chất. Chúng có thể gây tác hại ngay từ những ngày đầu của phôi thai, là nguyên nhân của những rối loạn ở mọi cơ quan, đặc biệt ở hệ tim mạch, làm cho các tế bào dễ bị oxy hóa, con người mau già.
Những kim loại này có mặt trong không khí mà chúng ta thở, trong nước uống, trong các thực phẩm chúng ta ăn, trong các loại thuốc chúng ta dùng để chữa bệnh.
Người ta có thể xác định về lượng của các chất độc này bằng các phương pháp xét nghiệm máu, nước tiểu và tóc.
Đó là 4 kim loại : nhôm (Al), cadmium (Cd), thủy ngân (Hg) và chì (Pb).
Tính độc của chúng còn phụ thuộc vào sự có mặt của một số nguyên tố khác. Thí dụ : hiên tượng cơ thể thiếu magiê và kẽm làm cho khả năng gây độc của cadmium và chì tăng lên và tính độc của thủy ngân cũng như vậy, nếu không có sêlen kìm hãm.
Các kim loại này có trong cơ thể chúng ta chỉ vì chúng ta tiếp xúc với không khí hoặc ăn, uống những đồ uống và thực phẩm bị ô nhiễm, mà không vì nhu cầu của cơ thể như những nguyên tố vi lượng khác.
Nhôm (Al)
Nhôm có tên khoa học là Aluminium, được ký hiệu là Al. Tiếng “nhôm” của Việt Nam là phiên âm của phẩn đuôi “nium” mà ra. Nhôm là nguyên tố đứng thứ 3 về lượng trong thành phần vỏ trái đất (8,13%), đứng sau oxy và silic. Trong công nghiệp, Al là kim loại được trọng dụng vì tính nhẹ và dẫn nhiệt, điện tốt.

Nhu cầu về vanadi của cơ thể

Như hiện tượng ngứa lở ở cổ chân và bàn chân là do bệnh nhân có thói quen cọ vào chân chiếc ghế mạ kền mỗi khi ngồi làm việc hoặc đọc sách báo. Hiện tượng dị ứng thường xảy ra dễ dàng hơn nếu da có mồ hôi.
Nói chung, tất cả các vật dụng mạ kền chung quanh ta, từ chiếc áo khuy áo, cái kim, con dao, cái kéo, đồ dùng trong bếp, đồng tiền,… đều có thể gây rắc rối cho những người có làn da nhạy cảm hoặc coi nhẹ tác dụng độc của kền, vì những hạt bụi kền rất nhỏ, có thể dính kết với các phân tử protein của da để trở thành những chất kháng gien, phá hoại ngay tổ chức của da. Bởi vậy, chúng ta nên nhớ Ni cùng các hợp chất của Ni là những chất độc. Cần phải cảnh giác với những đồ vật mạ kền hay mạ crôm dù chúng có thể rất đẹp!
Vanadi (V)
Tên khoa học của kim loại là Vanadium, có ký hiệu là V.
Vanadi được phát hiện vào thế kỷ XIX và được sử dụng trong cộng nghiệp luyên kim, hóa học, quang học, chụp hình.
Trong cơ thể, V có rất ít dưới dạng ion của các muối, tập trung ở gan, xương và tóc. Việc chúng ta sử dụng các nhiên liệu như than và dầu mazút vẫn thường xuyên thải ra những lượng V đáng kể, làm cho không khí bị ô nhiễm. Ở thành phố và các khu công nghiệp, trung bình mỗi người có thể hít vào phổi mỗi ngày từ 0,05 – 4 ug Vanadi.
Các nhà khoa học dự đoán cơ thể người có khoảng 100 ug V. Con số này có thể tăng lên gấp đôi ở thành phố và các khu công nghiệp. Nếu không kể tới lượng V xâm nhập vào cơ thể do không khí bị ô nhiễm, thì nguồn V chính là thực phẩm. Gan bò, cá, hạt ngũ cốc, dầu thực vật, rau, các loại rễ củ như khoai, cà rốt … đều có chứa lượng V tương đối cao. Một số nấm có V, nhưng lại là nấm độc.
Các nhà khoa học chưa xác định được nhu cầu của cơ thể về V là bao nhiêu. Tuy nhiên, họ cũng xác nhận V có một số tác dụng có lợi cho hoạt động của cơ thể như :
Bổ sung lượng V cho bệnh nhân có thể làm giảm lượng cholesterol ở người trẻ, chứng tỏ V có khả năng chống lại các bệnh về tim mạch.
V ức chế những enzyme liên quan tới sự chuyển hóa đường trong máu nên có vai trò tương tự của insulin.
V lấp những chỗ trống Ca trong xương và răng nên có vai trò tương tự như P. Cơ thể thiếu V sẽ làm xương ngắn đi.

Hiện tượng dị ứng và ngộ độc niken

Niken (Ni)
Kền (niken) là phiên âm phần đuôi cũa kim loại mang tên Nickel, có ký hiệu là Ni. Nhiều tính chất của kim loại này còn ở trong vòng bí mật. Tuy nhiên, Ni và các muối của Ni đều được xác định là các chất độc.
Trong tự nhiên, kền thường được tìm thấy lẫn torng quặng sắt và đồng. Do tính chất khó bị oxy hóa nên Ni được dùng torng công nghiệp mạ để bảo vệ các kim loại dễ bị gỉ sét.
Các thực phẩm có nguồn gốc thực vật như lúa gạo, lúa mạch, chè (trà), cà phê, chứa nhiều Ni hơn thịt, sữa và các rau quả có dầu.
Vai trò của niken trong cơ thể
Cơ thể người có chừng 10 mg Ni, được phân phối ở đều khắp các loại tế bào, nhưng có nhiều hơn ở xương, răng, các tuyến thượng thận, phổi, não và da. Các cơ bắp, tinh hoàn, buồng trứng huầ như không có Ni. Người ta chưa xác định được nhu cầu hàng ngày về Ni của cơ thể người mà chỉ ước lượng từ 300 – 600 ug/ngày.
Dự đoán Ni có vai trò xuc tác cho một số phản ứng sinh học trong cơ thể liên quan tới các hoóc-môn có chức năng điều hòa hoạt động của chất prolactin đối với tuyến yên, tăng cường tác dụng của insulin, ức chế tác dụng làm tăng huyết áp và tăng lượng đường trong máu của chất adrenalin, tham gia tổng hợp chất sắc tố của da (melanine), chi phối sự hấp thụ chất sắt và can thiệp vào sự chuyển hóa các axít nucleic (ADN) chứa các thông tin cần thiết cho sự hoạt động của tế bào.
Những trường hợp cơ thể bị rối loạn do thiếu hoặc thừa Ni chưa được các nhà khoa học xác định rõ ràng vì người ta cũng chưa biết rõ nhu cầu của cơ thể người về Ni. Tuy nhiên, những phản ứng của cơ thể bị ngộ độc vì các chất muối của Ni thì đều dễ nhận thấy qua các biểu hiện như đi tiêu lỏng và bị nôn ói. So với khí độc oxýt cácbon (CO) thì chất Nickel cacbonyl còn độc gấp 100 lần, làm nhiễm độc phổi, não, gan, tuyến thượng thận và thận cùng với các triệu chứng đau bụng, sốt và bại liệt từng phần.
Ngoài ra, nhũng vụ ngộ độc nhẹ vì Ni có thể xảy ra hàng ngày ở khắp nơi do nạn nhân tiếp xúc với các đồ dùng bình thường trong sinh hoạt. Các móc áo nịt, đôi bông tai, chiếc vòng cổ, dây đồng hồ đeo tay… được mạ kền đều có thể gây dị ứng da. Đôi khi, có những trường hợp rất đơn giản nhưng lại khiến cho bác sĩ phải suy nghĩ mãi mới tìm ra nguyên nhân.

Vai trò của niken trong cơ thể

Niken (Ni)
Kền (niken) là phiên âm phần đuôi của kim loại mang tên Nickel, có ký hiệu là Ni. Nhiều tính chất của kim loại này còn ở trong vòng bí mật. Tuy nhiên, Ni và các muối của Ni đều được xác định là các chất độc.
Trong tự nhiên, kền thường được tìm thấy lẫn torng quặng sắt và đồng. Do tính chất khó bị oxy hóa nên Ni được dùng torng công nghiệp mạ để bảo vệ các kim loại dễ bị gỉ sét.
Các thực phẩm có nguồn gốc thực vật như lúa gạo, lúa mạch, chè (trà), cà phê, chứa nhiều Ni hơn thịt, sữa và các rau quả có dầu.
Cơ thể người có chừng 10 mg Ni, được phân phối ở đều khắp các loại tế bào, nhưng có nhiều hơn ở xương, răng, các tuyến thượng thận, phổi, não và da. Các cơ bắp, tinh hoàn, buồng trứng hầu như không có Ni. Người ta chưa xác định được nhu cầu hàng ngày về Ni của cơ thể người mà chỉ ước lượng từ 300 – 600 ug/ngày.
Dự đoán Ni có vai trò xuc tác cho một số phản ứng sinh học trong cơ thể liên quan tới các hoóc-môn có chức năng điều hòa hoạt động của chất prolactin đối với tuyến yên, tăng cường tác dụng của insulin, ức chế tác dụng làm tăng huyết áp và tăng lượng đường trong máu của chất adrenalin, tham gia tổng hợp chất sắc tố của da (melanine), chi phối sự hấp thụ chất sắt và can thiệp vào sự chuyển hóa các axít nucleic (ADN) chứa các thông tin cần thiết cho sự hoạt động của tế bào.
Hiện tượng dị ứng và ngộ độc niken
Những trường hợp cơ thể bị rối loạn do thiếu hoặc thừa Ni chưa được các nhà khoa học xác định rõ ràng vì người ta cũng chưa biết rõ nhu cầu của cơ thể người về Ni. Tuy nhiên, những phản ứng của cơ thể bị ngộ độc vì các chất muối của Ni thì đều dễ nhận thấy qua các biểu hiện như đi tiêu lỏng và bị nôn ói. So với khí độc oxýt cácbon (CO) thì chất Nickel cacbonyl còn độc gấp 100 lần, làm nhiễm độc phổi, não, gan, tuyến thượng thận và thận cùng với các triệu chứng đau bụng, sốt và bại liệt từng phần.
Ngoài ra, những vụ ngộ độc nhẹ vì Ni có thể xảy ra hàng ngày ở khắp nơi do nạn nhân tiếp xúc với các đồ dùng bình thường trong sinh hoạt. Các móc áo nịt, đôi bông tai, chiếc vòng cổ, dây đồng hồ đeo tay… được mạ kền đều có thể gây dị ứng da. Đôi khi, có những trường hợp rất đơn giản nhưng lại khiến cho bác sĩ phải suy nghĩ mãi mới tìm ra nguyên nhân.

Chữa khỏi bệnh gút

Những quả nhỏ có nước với những hạt mầm nhỏ trong nó như: mâm xôi den, nho quả nhỏ, phúc bồn tử, dâu tây v.v..
Những quả hạnh, đặc biệt là chanh, đào lộn hột, quả phỉ, quả hạnh tròn vỏ cứng, và quả óc chó v.v..
Những hạt mầm như: thìa là, hạt hạnh, anh túc, bí ngô, vừng mè, huớng dương. Cũng kể đến những hạt mầm trong nho sẫm đỏ và màu hồng chứ không phải là thịt quả ở bên ngoài.
Rau có củ như cà rốt, sắn dây, củ cải, khoai tây. Tất cả các loại bí và dưa chuột.
Cả cá nước ngọt, cá biển và tôm, trai, sò, cua…
Hầu hết các loại thịt chim, thú hoang dã chứ không phải gia cầm, vật nuôi.
Một người tình cờ mà tôi gặp là tài xế xe buýt đã bị khổ sở nhiều năm về diễn biến xấu của bệnh gút vì không thể tìm được cách làm giảm đau cho đến khi ông ta phát chán và quay sang điều trị bằng các dược thảo.
Ông cho biết là ông đã dùng bốn loại dược thảo khác nhau tại những quẩy bán thực phẩm sạch dưới dạng pha thành trà để uống. Đó là các loại cây thuỳ cư, lá tầm ma, cải long và hoắc hương với những lượng bằng nhau (mỗi thử một thìa canh) pha với 1lít nước sôi. Ông đậy vung lại, đun sôi các dược liệu trên trong vài phút sau đó bắc ra và để ngâm một lúc. Ông đem lọc nước vào trong 1 bình khác và mỗỉ lần uống 1cốc con vào 3 buổi sáng, trưa, tối.
Ông ta khẳng định là chỉ trong vài tần thì ông khỏi hẳn bệnh gút và từ đó không bị nó làm khổ nữa. Đến bây giờ ông vẫn thỉnh thoảng uống thứ trà trên nhưng không thường xuyên như trước đây. Ông ta cho rằng mỗi tuần hiện nay ông uống trà đó 2 lần để đề phòng bệnh trở lại.
Từ đó, tôi không được nghe nói về tên ông ta nữa nhưng không lâu sau để chứng minh sự hiệu quả của công thức điều trị đó, tôi phổ biến cho một người bạn cũ bị bệnh gút. Ông ta đã ngay lập tức sử dụng nó và chỉ trong một số ngày sau đã cho biết là ngón chân cái của ông đã khỏi sưng ngay sau khi dùng thuốc và hai mắt cá chân bắt đầu đỡ sưng và đỡ đau. Ông ta rất sung sướng vì thấy được hiệu quả nhanh như thể nhờ vào công thức của một người không quen biết tốt bụng.
Al Kracht một nhà thơ trào phúng 68 tuổi trên đầu không hề có tóc bạc. Khi tôi thắc mắc hỏi về điều bí mật của ông ta về chuyện đó, tôi rất ngạc nhiên khi biết tất cả là do quả cây man việt quất!

Đứa con thông minh

Trong lúc mang thai người mẹ nên ở những nơi mát mẻ, sạch và có nhiều cảnh đẹp mắt
Nhưng theo sự nghiên cứu y học, khoa học, tâm lý con người phải nói một cách chính xác rằng: muốn biết đứa con sau này có được thông minh hay không, cứ nhìn vào cử chỉ và hành động của người mẹ trong lúc có thai nghén.
Muốn có một đứa con thông minh, khi bắt đầu có thai nghén người đàn bà nên giảm chính sự làm việc mệt nhọc, giữ cho lòng mình được trong sạch và thanh thản. Đừng nên nhìn vào những hiện tượng kỳ dị, quái lạ, đừng nên làm cho các dây thần kinh căng thẳng trong lúc mang thai. Nhất làm xem tiểu thuyết, phim ảnh có những hình ảnh quái lạ. Trong lúc đó người đàn bà cũng không nên nhìn những cảnh tượng diễn ra có tính ghê tởm và sợ hãi mà rất cần cho sự du ngoạn, tìm xem những phong cảnh lạ để mở rộng tầm hiểu biết, có thể tìm những nơi có hoa nở tưng bừng, có vườn cây mát mẻ đề người mẹ hưởng không khí trong lành, thanh khiết. Nghĩa là, trong lúc mang thai người mẹ nên ở những nơi mát mẻ, sạch và có nhiều cảnh đẹp mắt.
Trong lúc thai nghén có sự hoạt động, nhìn thấy cảm nghĩ của người mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến đứa con sau này. Trong thời gian này, nếu người mẹ không có những trường hợp để cho lòng thanh thản, vui tươi, thường lo lắng, mệt nhọc thì đứa con bị ảnh hưởng theo.
Kinh nghiệm cho thấy rằng, những đứa con thông minh đều được sinh ra trong những gia đình có đầy đủ yếu tố cần thiết cho sự sống của mẹ, có đầy đủ nhu cầu cần thiết để bồi dưỡng và làm cho người mẹ không có một cảm nghĩ gì trong gia đình cũng như trong sự sinh sản sắp tới, người mẹ chỉ lo thân thể và tìm những cái thanh thản vui tươi cho tâm hồn.
Ngoài những sự cần thiết cho sự sinh sản, còn có những giây phút êm đềm gia cảnh. Như vậy, sự vui tươi, mở rộng kiến thức của người mẹ, sau này đứa con cũng ảnh hưởng theo, chẳng những sanh con được tươi tốt, duyên dáng mà sau này đứa con thông minh hoàn toàn.
Muốn được như vậy thì từ khi mang thai cho đến ngày sinh nở, các bà mẹ nên đi xem hoa, hái hoa hoặc tìm những phong cảnh đẹp tất nhiên đứa con sẽ đẹp và thông minh. Bạn gái hãy học tập kinh nghiệm và sẽ thấy kết quả chắc chắn. Đừng nên tin tưởng vào các ông “thầy” chuyên nói mà không biết gì về khoa sinh sản, nhất là các ông “thầy tướng số”. Việc sinh con không phải do việc làm phúc đức mà ra. Sự thật là do ở sự thông minh của người mẹ. Làm phúc đức cũng là một việc tốt, song chỉ làm cho lòng mình trong sạch và thanh thản mà thôi, và nó chỉ có ảnh hưởng một phần đến những việc khác mà thôi.

Sự yếu đuối của tuổi già

Những thực phẩm cung cấp cho cả 3 vitamin này có rất nhiều. Vitamin B6 có nhiều trong thịt nạc, gan, rau quả, hạt ngũ cốc lứt, một số hạt mầm và hạt hạnh. Folacin có nhiều trong các cây cỏ, nhất là ở những phần có màu xanh – cũng vì thế trong não, gan, thận, trứng, nấm men, mầm lúa mạch, có ít hơn trong sữa, pho mát, thịt bò và rau.
Có vài chất trong chất đó có thể được dùng một cách thường xuyên giúp bạn trở nên duyên dáng hơn. Hãy nghĩ đến chúng như sự an ủi về mặt dinh dưỡng trong những năm tháng của những đám mây đen của tuổi già.
Một trong những dấu hiệu phổ biến nhất của tuổi già là xương dễ bị tổn thương. Nguyên nhân chính thường được gán cho là do loãng xương. Đó là một tình trạng mất nhiều khối xương do thiếu các chất khoáng cần thiết cho sự hình thành xương như phospho và đặc biệt là calci. Những xương bị ảnh hưởng trở nên xốp, giòn và dễ bị gẫy.
Khớp cổ tay, khớp háng và những đốt sống là những vị trí gãy xương thường gặp nhất vì lí do trên. Rối loạn này rất phổ biến ở những người trên 70 tuổi và nữ bị ảnh hưởng gấp 4 lần so với nam giới do những biến động về nội tiết ở trong thời kì mãn kinh.
Nhưng tình trạng xương dễ bị tổn thương có thể dễ dàng tránh dược bằng cách áp dụng chế độ ăn của thời kì đồ đá. Một số thực phẩm được ăn ở thời kì đó làm cho kích cỡ và sức mạnh của xương vượt xa những tiêu chuẩn mẫu của người hiện nay. Mẫu tốt nhất hơn hẳn đồ dùng cho sự nghiên cứu này là những người Meanderthal.
Tất nhiên là không ai trong cuộc sống ngày nay lại có thể có được loại sức khỏe kì quái không thể tin được như của người tiền sử. Nhưng rất có thể bằng một số loại thực phẩm thì ít nhất cũng có thể làm tăng gấp đôi mật độ khối lượng xương và do đó phòng ngừa được sự dễ tổn thương xương khi về già.
Những người Neanderthal là những người anh hùng tìm kiếm chứ không phải là nông dân. Thức ăn của họ là các loại thú hoang da, cá, trai, sò, tôm, cua, những rễ cây ăn được, thực vật có lá, vài thứ quả to, dâu, quả có hạt và các hạt mầm và thực tế là không bị hao mòn xương. Nhưng như bằng chứng về sau này cho thấy, những cấu trúc giải phẫu hiện đại thay thế cho thấy là dễ bị chứng xốp xương. Những nông dân dễ bị mất xương hơn là dân trong những xã hội săn lùng – tìm kiếm như của người Neanderthal.

Axit uric có khả năng chống lão hóa

Thời gian Mo ở trong cơ thể, kể từ khi được hấp thụ tới khi bị thải ra ngoài, được coi là ngắn nhất so với hành trình của các nguyên tố khác. Lượng Mo được tích lũy ở gan và thận rất nhỏ, không bao giờ vượt quá 10 lần bình thường. Mỗi ngày, cơ thể có thể hấp thụ tới 0,1 mg Mo từ thức ăn và có thể tiếp nhận lượng Mo bổ sung tới 0,3 mg/ngày.
Tác dụng chính của Mo đối với cơ thể là thực hiện việc giải độc như : dự phần chuyển các chất muối đọc sunfít thành muối sunfát không độc, vô hiệu hóa một số andehyt độc được hình thành trong quá trình chế biến và nấu thức ăn, điều hòa sự hình thành chất axít uric. Axit uric có khả năng chống lão hóa nhưng nếu có nhiều quá mức bình thường sẽ gây ra bệnh Gút, làm đau nhức ngón chân, ngón tay, các khớp và một số bệnh về tim mạch.
Ngoài ra, Mo còn có tác dụng :
Cố định chất Flour (F) vào men răng, giúp răng chắc bền và chống bệnh sâu răng.
Kích thích việc hấp thụ chất sắt ở ruột cần thiết cho sự tạo thành các hồng huyết cầu
Đào thải chất đồng khi lượng nguyên tố này vượt quá mức cần thiết
Tham dự vào việc tổng hợp nhiều enzyme quan trọng có liên quan tới sự chuyển hóa các axit nucleic, các axit amin ở các cơ quan nội tạng như phổi, thận, gan, ruột, v.v…
Việc bổ sung Mo cho cơ thể
Lượng Mo thường được các bác sĩ chỉ định cho các đối tượng cần được bổ sung như sau :
Người cần bổ sung
Lượng Mo (ug/ngày)
Trẻ sơ sinh 30
Trẻ em từ 1 – 3 tuổi 40
Trẻ em từ 4 – 9 tuổi 50
Trẻ em từ 10 – 12 tuổi 100
Người lớn 150
Những người cần được bổ sung thêm Mo gồm : người bị các chứng bệnh dị ứng, hen, bệnh đường ruột, trẻ sinh non, người có tỷ lệ axit uric trong máu quá thấp hoặc tỷ lệ andehyt quá cao.
Mo là nguyên tố vi lượng điển hình về tác dụng 2 mặt : thiếu sẽ làm cơ thể dễ bị nhiễm độc, kể cả bị đe dọa về bệnh ung thư, nhưng thừa sẽ làm giảm quá mức chất đồng trong cơ thể và gây ra một số chứng bệnh về thấp khớp như bệnh Gút.
ở một số nước, người ta nghiên cứu mẫu đất từng vùng để biết đất có nhiều hay ít Mo và khuyên dân chúng dùng thuốc có Mo để bổ sung nếu cần. Những nước được coi là “nghèo” về Mo là Hungari, Zambia, còn nước “giàu” Mo là Ý, I-rắc, Ấn Độ, Pakistan. Vì ảnh hưởng thổ nhưỡng, theo lý thuyết thì người Hungari chóng già, còn người Ý, I-rắc, Ấn Độ lại hay bị đau ngón chân.

Vai trò của Molybden trong cơ thể người

Kích thích và điều khiển sự chuyển hóa các chất đường và protein trong cơ thể
Sự hấp thụ Li được thực hiện ở ruột, được chuyển nhanh vào máu. Huyết thanh bình thường có chứa lượng Li dưới mức 60 ug/l. Nồng độ Li ở tủy sống chỉ bằng 40% nồng độ Li trong máu và cao nhất ở thận. hiện tượng Li thấm vào các tế bào não xảy ra rất từ từ. Lượng Li của các thuốc được bổ sung vào cơ thể sẽ bị thải ra gần hết trong vòng 24 giờ qua đường nước tiểu, đường tiêu hóa và mồ hôi.
Liều lượng bổ sung thường thấp hơn liều lượng Li dùng để chữa bệnh rất nhiều (ít hơn 1000 lần). Việc cơ thể thừa Li có thể làm người bệnh cảm thấy chóng mặt, nôn ói, người run, lực cơ bắp bị suy yếu, nhịp tim rối loạn.
Để tránh các hiện tượng trên, các bác sĩ thường yêu cầu bệnh nhân xét nghiệm máu để theo dõi tỷ lệ Li trong máu và chỉ định liều lượng hợp lý.
Việc dùng thuốc co Li trong thời gian dài có thể làm người bệnh buồn ngủ, suy giảm khả năng tình dục và tăng cân. Li có thể thấm qua nhau thai nên phụ nữ mang thai không nên dùng thuốc có Li.
Việc xét nghiệm trên cơ thể các thú vật nuôi trong phòng thí nghiệm cho thấy Li có khả năng kích thích sự hoạt động của các virút HIV. Bởi vậy nên các thuốc có Li cũng không thích hợp với các đối tượng đã có kết quả xét nghiệm máu HIV dương tính.
Molybden (Mo)
Môlípđen là tên phiên âm của nguyên tố Molybden, có ký hiệu Mo, được phát hiện vào năm 1782 trong quặng kim loại. Năm 1930, một nhà hóa học xác định Mo rất cần thiết cho việc hấp thụ azôt (N) của một số vi sinh vật trong đất. hiện nay, Mo vẫn được coi là chất cần thiết giúp cho các cây trồng dễ hấp thụ chất đạm từ các phân bón hóa học. Tới năm 1983, nhà sinh – hóa học Coughlan còn đề cập thêm tới vai trò phụ enzyme của Mo trong cơ thể người.
Cơ thể người có từ 5 – 10 mg Molybden, tập trung nhiều ở gan, thận, rồi tới các tế bào mỡ, các tuyến thượng thận và xương, phổi, lá lách. Các cơ bắp và não cũng có nhưng ít.
Nguồn cun cấp Mo cho cơ thể người là các loại rau quả, nhất là các loại đậu, hạt đậu và ngũ cốc. Thịt, cá, sữa có ít Mo hơn.
Ruột hấp thu Mo từ thức ăn rồi chuyển vào máu ở dạng muối molybdat để dẫn tới mọi điểm trong cơ thể trước khi thải ra ngoài qua đường tiểu tiện và tiêu hóa.

Hiện tượng thiếu, thừa côban trong cơ thể

Mỗi ngày, cơ thể chúng ta cần 3 ug vitamin B12, tương ứng với 0,04 – 0,12 ug Co, mà các bữa ăn trong ngày thừa khả năng cung cấp vì có thể đạt tới 5 – 45 ug. Lượng Co này trong thành phần của vitamin B12 là trợ thủ đắc lực của 2 loại enzyme có vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa các chất axit amin trong thực phẩm, rồi lại giúp cơ thể tổng hợp các axit amin mới phù hợp với cơ thể người.
70% lượng Co do cơ thể hấp thụ được từ thức ăn lại được thải ra ngoài qua đường tiểu tiện, 10 – 15% qua đường tiêu hóa. Những người thiếu Co thường bị bệnh thiếu máu. Nhưng nguyên nhân chính là do thiếu chất dinh dượng (ăn thiếu hoặc kiêng ăn thực phẩm động vật), bị bệnh về đường tiêu hóa hoặc cơ thể thiếu khả năng hấp thụ vitamin B12 (bệnh Biermer).
Hiện tượng thừa Co ít khi xảy ra đối với người bình thường. Riêng đối với những người làm việc tại nơi sản xuất Co thì có thể mắc bệnh về đường hô hấp giống như bệnh hen, bệnh viêm mũi do Co gây ra. Da tiếp xúc nhiều với Co có thể bị dị ứng và bị bệnh eczema.
Iốt (I)
Cách đây 5000 năm, người Trung Hoa đã biết cách chữa bệnh bướu cổ bằng rong biển, nhưng chưa biết rằng đó là nhờ tác dụng của chất iốt có trong rong. Iốt có tên khoa học là iodès, một từ Hy Lạp có nghĩa là màu tím. Ký hiệu của iốt là I.
Năm 1850, Chatin, nhà khoa học Pháp, xác định rằng bệnh bướu cổ là do hiện tượng thiếu iốt của cơ thể gây ra. Năm 1914, Kendall tách riêng được chất thyroxin chứa nhiều iốt từ tuyến giáp.
Vai trò của iốt trong cơ thể người
Cơ thể người có khoảng 50 mg iốt, 20 – 30% lượng iốt này tập trung ở tuyến giáp. Lượng I trong máu từ 0,1 – 0,3 ug/100 ml và trong các hoóc – môn của tuyến giáp từ 4 – 8 ug/100 ml.
Vai trò chủ yếu của iốt là tham gia vào việc hình thành các hoóc – môn của tuyến giáp. Những hoóc – môn này rất quan trọng cho sự phát triển hài hòa của cơ thể nói chung và bộ não nói riêng, có liên quan tới :
Sự phát triển và bền chắc của xương (do vai trò điều tiết lượng phốt-pho và canxi trong cơ thể).
Sự hoạt động của các cơ
Việc phân phối oxy cho các cơ tim
Sự chuyển hóa chất ở ruột
Sự sản xuất hồng huyết cầu (do chức năng điều khiển việc hấp thụ chất sắt).
Chức năng thanh lọc các chất của thận
Sự điều chỉnh thân nhiệt
Việc tổng hợp các phân tử lipit mới và bỏ các phân tử lipit đã xuống cấp.