Phòng bệnh đau ngực, bệnh phổi, bệnh tim mạch, bệnh cao huyết áp và hiện tượng dư thừa cholesterol trong máu.
Phối hợp với dầu cá, vitamin E được dùng để phòng chống hiện tượng dư thừa mỡ trong máu, chống sự tắc nghẽn mạch, kể cá các mạch ở não do bị lão hóa.
Người bị viêm giác mạc, viêm mắt.
Phòng hiện tượng co quắp chân tay, đặc biệt đối với những người kháng thuốc chữa trị bệnh động kinh.
Chữa trị một số bệnh ngoài da như bệnh lupus.
Người phải dùng thuốc có chất sắt (Fe) (vì sắt là chất hỗ trợ cho sự oxy hóa, nên cần có vitamin E để chống lại hiện tượng này).
Dùng vitamin E quá liều lượng có hại hay không?
Vitamin E không gây ngộ độc, dù được dùng ở liều lượng cao, trong thời gian dài.
Tuy nhiên, vitamin E cũng làm cho máu khó đông. Bởi vậy, những người có bệnh dễ bị chảy máu, máu lâu đông, cơ thể kháng vitamin K, không nên dùng quá 200 U.I vitamin E trong ngày và cầnphải ngưng dùng vitamin E vài tuần trước khi phẫu thuật.
Vitamin K
Sinh tố K hay vitamin K là tên được các nhà khoa học đặt cho một nhóm gồm 3 loại dẫn xuất của chất naphtoquinone. Chúng đều có đặc tính làm ngưng hiện tượng chảy máu (cầm máu).
Người ta phân biệt:
Vitamin K1, có nguồn gốc từ thực vật, còn có tên là phytomedianone hay phylloquinone.
Vitamin K2, có trong động vật và một số vi khuẩn, còn có tên là menaquinone.
Vitamin K3 và một số vitamin K khác được điểu chế bằng phương pháp tổng hợp, Vitamin K3 còn có tên là menadione, vit. K4 là menadiol;…
Vitamin K được 2 nhà sinh – hóa học người Đan Mạch là H. Dam và Schonheyder phát hiện ra một cách tình cờ, vào năm 1929. Trong quá trình nghiên cứu sự chuyển hóa của cholesterol, hai nhà khoa học này đã nhận thấy rằng những con gà được nuôi trong phòng thí nghiệm với một chế độ ăn hạn chế chất béo và cholesterol thường hay bị mắc một số loại bệnh gây xuất huyết, khó cầm máu. H.Dam nghĩ rằng nguyên nhân có thể do chúng bị thiếu một loại vitamin K (do từ Koagulation có nghĩa là sự đông lại) cần cho sự ngừng chảy máu. Về sau, Schonheyder đã nhận xét rằng sở dĩ máu của những con gà bệnh không đông lại được là do bị thiếu chất prothrombine.
Năm 1936, H. Dam đã chiết được một chất sánh như dầu từ cỏ linh lăng, một thứ cỏ đã được nhà sinh vật học Almquist dùng để chữa trị bệnh chảy máu của gà.
Năm 1939, Doisy chiết được chất này từ cá, đồng thời cũng lập được công thức cấu tạo cũa chất này.

Comments are closed.