Nữ từ 13 tuổi trở lên 12
Nam từ 13 tuổi trở lên 15
Phụ nữ mang thai 15
Phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ 19
Người già 12
Bác sĩ có thể chỉ định những liều lượng cao hơn trong các trường hợp chữa mụn ở mặt, loét dạ dày, bệnh herpes (bệnh ngoài da, còn gọi là “giời leo”). Thuốc có chất kẽm có loại dùng để bôi ngoài da, để vết thương mau lành, hoặc thuốc uống.
Những nguyên tố vi lượng khác
Sáu nguyên tố vi lượng khác được đề cập sau đây đều cần thiế cho cơ thể. Đó là các nguyên tố : côban (Co), iốt (I), liti (Li), molybden (Mo), niken (Ni) và vanadi (V).
Côban là thành phần chính của vitamin B12, nên vitamin này còn được gọi là chất cobalamin. Iốt cần thiết cho sức khỏe tới mức việc trộn iốt với muối ăn được coi là chính sách về sức khỏe của nhiều quốc gia trên thế giới. liti có liên quan tới tình trạng tinh thần của con người, còn vanadi và niken đều có mặt trong cấu tạo tế bào, nhưng vai trò của chúng còn nhiều điều mà khoa học cần phải tiếp tục nghiên cứu và khám phá.
Coban (Co)
Côban hay Cobalt có ký hiệu Co, là một nguyên tố hiếm, chỉ có rất ít trong nước tự nhiên và trong đất.
Cách đây 2000 năm, người ta đã biết dùng coban để làm chất màu, nhưng mãi tới năm 1922 mới biết sử dụng Co để chế tạo hợp kim. Tới năm 1935, nhà khoa học người Úc, Underwood, nhận thấy hiện tượng thiếu Co ở loài bò sẽ dẫn tới hiện tượng chán ăn và thiếu máu.
Cho mãi tới năm 1955, các nhà khoa học mới xác định được sự có mặt của Co trong tế bào động vật nói chung và cả trong cơ thể người.
Cơ thể người có khoảng 1 mg côban, chủ yếu được tích lũy ở gan. Vì Co là nguyên tố chính trong vitamin B12, nên có thể coi những đặc tính của vitamin B12 cũng là của Co, như : chống bệnh thiếu máu, kích thích sự tiêu hóa, hỗ trợ hoạt động của hệ thần kinh, tăng cường trí nhớ, giúp cho sự phát triển cơ thể của trẻ em được thuận lợi v.v…
Những thực phẩm cung cấp cho cơ thể vitamin B12 cũng là những nguồn côban, chủ yếu là gan, sữa, thịt, trứng … Bởi vậy, những người ăn kiêng hay ăn chay, chỉ ăn các thực phẩm thực vật thường bị thiếu côban. Trong cơ thể, lượng Co được phân phối như sau : 45% trong các cơ bắp, 15% trong xương, phần còn lại được phân tán trong mọi tế bào. Máu chứa từ 0,07 – 136 ug/l, chủ yếu trong hồng huyết cầu.

Comments are closed.