Cơ thể thừa F sẽ có các triệu chứng như :
Men răng bị lốm đốm đen, có thể phát triển thành các lỗ thủng nhỏ.
Các xương dài dễ cong, dễ gãy vì xương có nhiều F bị yếu, không chắc như xương có cấu tạo canxi, đặc biệt đối với xương đùi.
F là môt chất oxy hóa mạnh, nên sự dư F sẽ làm cho cơ thể mau bị lão hóa, làm tăng huyết áp, có hại cho cơ quan tiêu hóa, gây nôn ói và đau bụng.
Bởi vậy, có một biện pháp khác để người ta chủ động trong việc tiếp thêm F cho cơ thể là trộn muối natri florua (NaF) vào muối ăn (ở Pháp) hoặc vào bột cho trẻ em (ở Đan Mạch).
Liều lượng F được các bác sĩ chỉ định cho các đối tượng cần bổ sung như sau :
Đối tượng
Lượng Flo (mg/ngày)
Trẻ em từ 6 tháng – 2 tuổi 0,25
Trẻ em từ 2 – 4 tuổi 0,5
Trẻ em từ 4 – 16 tuổi 1,0
Các viên thuốc thường chứa Natri florua (NaF) : 2,2 mg NaF chứa 1 mg F.
Flo ở thể khí rất độc. Hít từ 2 g trở lên có thể bị chết, sự tiếp xúc thường xuyên với khí flo có thể gây bệnh mãn tính do ngộ độc.
Bốn chàng hiệp sĩ
Trong số các nguyên tố vi lượng, có những nguyên tố có tính kiềm chế tác dụng của nhau như sắt với kẽm, liti với iốt, có những nguyên tố hỗ trợ lẫn nhau như đồng với sắt, flo với canxi.
Lại có những nguyên tố chuyên bảo vệ các nguyên tố khác, sửa chữa các tổ chức tế bào bị hư hỏng, đánh lạc hướng các nguyên tố độc hại ra khỏi địa bàn hoạt động của chúng.
Đó là 4 nguyên tố nổi tiềng về lòng hào hiệp gồm : crôm (Cr), sêlen (Se), silic (Si) và kẽm (Zn).
Crôm (Cr)
Crôm có ký hiệu là Cr, do nhà hóa học người Pháp Vauquelin phát hiện vào năm 1797 và được các nhà khoa học sử dụng trước tiên vào việc điều chế các hợp kim. Tới năm 1955 tác dụng của crôm lại được hai nhà sinh – hóa học người Mỹ là Walter Mertz và Klaus Schwarz nêu lên khi nói về các bệnh do thiếu crôm ở chuột.
Cơ thể người có từ 1 – 5 mg Cr, được phân phối đều khắp ở tất cả các tế bào. Ruột non hấp thụ được từ 0,4 – 3% Cr có trong lượng thức ăn được tiêu hóa. Khả năng hấp thụ Cr giảm đi ở người già và tăng cao nếu có mặt các chất phụ trợ như : histidine, axit glutamic, penicillamin.
Crôm có vai trò quan trọng đối với sự tổng hợp và chuyển hóa các chất đường (gluxit) và chất béo (lipit) trong cơ thể, có tác dụng như một trợ thủ đắc lực của insulin – chất hoóc môn kiểm soát lượng đường trong máu.

Comments are closed.